21:55 ICT Thứ tư, 19/09/2018

Menu

Mặt trước giáo xứ Trung Đồng
Linh mục Nguyễn Văn Thao

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 13

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 12


Hôm nayHôm nay : 2165

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 50480

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7490106

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Giáo xứ Trung Đồng?

Rất rõ.

Rõ.

Một ít.

Không biết gì.

Trang nhất » Tin Tức » Bài viết chia sẻ

Đóng góp của tôn giáo với xã hội hiện nay

Chủ nhật - 17/08/2014 17:06
Nghị quyết 25-NQ/TƯ “Về công tác tôn giáo” năm 2003 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX có ghi: “Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc… Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” (1).

Đây là một sự phát triển về nhận thức đối với tôn giáo của một đảng cầm quyền theo chủ nghĩa Mác Lênin. Nhưng có lẽ, đóng góp của tôn giáo với xã hội hiện nay không chỉ về mặt đạo đức mà còn nhiều mặt khác nữa. Chúng ta thử tìm hiểu về vấn đề này.

 

1- Tôn giáo là nhịp cầu giao lưu văn hóa giữa các quốc gia

 

Trước hết, tôn giáo là văn hóa và là một bộ phận cấu thành của văn hóa mỗi quốc gia nên tôn giáo có đóng góp đầu tiên là về văn hóa. Tôn giáo khi du nhập vào mỗi quốc gia, nó đã đi trước vấn đề của toàn cầu hóa ngày nay là tạo ra sự giao lưu văn hóa giữa các nước với nhau. Chính nó góp phần làm phong phú văn hóa nước sở tại bằng những gì văn minh tiến bộ mà tôn giáo ấy mang theo từ bên ngoài vào đồng thời cũng giới thiệu được đất nước, con người, văn hóa của nước chủ nhà ra thế giới bên ngoài. Chẳng hạn Việt Nam khi du nhập các tôn giáo như Khổng, Lão thì mang theo những giá trị văn hóa của Trung Hoa vào nước ta. Còn khi đạo Công giáo vào từ châu Âu, nó cũng mang theo cả những tiến bộ, văn minh của phương Tây lúc đó đến Việt Nam. Các tác giả cuốn “Ảnh hưởng của các tư tưởng tôn giáo đối với con người Việt Nam hôm nay” đã có nhận xét rất chính xác rằng: “Nói đến những ảnh hưởng của văn hóa, tư tưởng phương Tây ở Việt Nam thì chắc chắn đạo Thiên Chúa là nhân tố đầu tiên trong sự ảnh hưởng này. Và như vậy, trong lịch sử, tôn giáo luôn đóng vai trò những sứ giả đi đầu trong những cuộc viếng thăm, tiếp xúc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc”(2).

 

Những nhà truyền giáo phương Tây khi đến Việt Nam hồi thế kỷ XVII-XVIII, trong đó có nhiều người học hành bài bản ở các đại học thời danh lúc đó nên khi đến nước ta, họ cũng mang theo những kiến thức khoa học, kỹ thuật của văn minh châu Âu vào Việt Nam. GS Phan Huy Lê nhận định:

 

Trong hàng ngũ giáo sĩ, có những người chỉ hoạt động vì đức tin và cũng góp phần truyền bá một số thành tựu văn minh phương Tây vào Việt Nam. Nhà toán học và thiên văn học Jean Baptisle Sanna (Ý), Sbatien Pices (Bồ), Francoi de Lima (Bồ), Joseph Neugebeaur (Đức), nhà y học Jean Sibert (Tiệp), Chales Salemenski (Hung), Jean Koffler (Tiệp), Jean de Loureiro (Bồ)… là những giáo sĩ đã giúp chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Alexandre de Rhodes cùng các giáo sĩ Fracesco de Pina, Christoforo Borri, Gaspar de Amaral, Antoine de Babosa… đã đưa hệ thống chữ cái latinh vào Việt Nam, góp phần sáng tạo ra chữ quốc ngữ, la tinh hóa chữ Việt” (3).

 

Ngày nay ở Việt Nam, chiêm ngắm các chùa, miếu, nhà thờ mà trong số đó có hàng ngàn chiếc đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia – đấy là những giá trị văn hóa vật thể, còn những giá trị văn hóa phi vật thể như các lễ hội, nghi lễ, thánh ca, kịch, tuồng cũng là những giá trị không hề nhỏ.

 

Tại Việt Nam, sản phẩm chữ quốc ngữ cũng là thành quả giao lưu giữa đạo Công giáo và văn hóa Việt. Điều đáng ghi nhận là ở nhiều nước như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc, các giáo sĩ đều có nỗ lực la tinh hóa chữ bản xứ nhưng không đâu thành công. Chữ quốc ngữ đó là thành tựu kết hợp sự hội nhập văn hóa cả các nhà truyền giáo và sự đóng góp, tiếp nhận của người Việt. Khi các giáo sĩ giới thiệu các thành tựu văn minh phương Tây như phương pháp in bằng con chữ rời, cách làm báo “nói viết như thường”, phương pháp dệt vải khổ rộng, lối chữa bệnh theo kiểu tây y, các kiểu nhà thờ gotich, roman, các bản thánh nhạc hay hội họa danh tiếng thế giới làm giàu cho văn hóa Việt thì khi mô tả đất nước, chữ viết, con người Việt Nam ra bên ngoài, chính tôn giáo đã làm cầu nối giao lưu văn hóa giữa các quốc gia. Ngày nay, tôn giáo càng đóng vai trò giao lưu quan trọng. Khi những chùa Một Cột được xây dựng ở nhiều nước như Thái Lan, Nga, khi nhà thờ La Vang, Phát Diệm được khánh thành trên đất Hoa Kỳ, nó không chỉ nhắc nhớ Việt kiều nhớ đến quê hương mà còn làm cho thế giới biết đến Việt Nam qua tôn giáo.

 

2- Tôn giáo góp phần phát triển kinh tế bền vững

 

Không ít người cho rằng, tôn giáo toàn lo chuyện trên trời, tìm kiếm “hạnh phúc hư ảo” thì có vai trò gì trong phát triển kinh tế? Xin thưa, tôn giáo có vai trò phát triển kinh tế từ xa xưa. Người ta vẫn hay đàm tiếu: “đi đạo lấy gạo mà ăn”. Quả thực, có một số người khi được cứu tế lúc giáp hạt, hay giúp đỡ nông cụ, mua ruộng nương… đã gia nhập Công giáo hay Tin Lành. Nhưng ngoài yếu tố phát triển tín đồ ra, các tôn giáo này đã góp phần phát triển kinh tế vì cứu con người sống qua nạn đói là giữ được lực lượng lao động quan trọng để sản xuất. Có công cụ, có ruộng nương cũng là để sản xuất. Thừa sai Leroy đã viết trong thư đề ngày 3-7-1787:

 

Giáo hội đã gặt hái được trong năm, sáu tháng đói và dịch bệnh nhiều hơn 5, 6 năm bình thường… Thừa sai Lamothe ghi trên giấy cho các thày giảng một kế hoạch để đi đến các làng phân phát cho những ai có con đau ốm một ít tiền bạc và thuốc thang. Người ta đã cho phép họ muốn làm phép Rửa cho bao nhiêu trẻ em thì làm” (4).

 

Nước ta vốn coi thường buôn bán, coi đó là nghề kém nhất trong thứ hạng nghề nghiệp “sĩ, nông, công thương”. Nhưng đọc nhiều bản văn giảng dạy của các giáo sĩ từ thế kỷ XVIII đã thấy hướng dẫn cho giáo dân biết buôn bán kiếm lời như rẻ mua, đắt bán hay cho vay lấy lãi:

 

Hãy lấy tiền đặt nợ mà tậu ruộng cũng nên. Mùa nào rẻ thóc, rẻ hàng hãy mua. Mùa nào mắc sẽ bán, cũng nên.

 

Hoặc chẳng hay buôn bán, thì hãy hợp cùng người buôn. Mình sẽ ra tiền mà nó cũng ra công: hoặc được lãi thì chia cùng nhau, hoặc lỗ vốn thì mình sẽ chịu thiệt vốn mình, nó sẽ chịu thiệt công nó cũng nên.

 

Hoặc là mua lãi cách này: hãy cho người nào thật thà 10 quan hay là 100 mặc lòng, mà vốn ấy trao cho người ấy mặc người ấy cầm trọn đời, cùng đời con cái, đời cháu chắt người ấy mặc lòng: mà một năm nó sẽ trả như 10 quan hay 2 quan năm, hay ba quan lãi: một trăm là 25 hay 30 chốc ấy cũng nên”(5).

 

Nhà sử học người Pháp Alain Forest đã phát hiện ra đóng góp này. Ông viết:

 

Xét cả trên phương diện kinh tế của vấn đề hiện đại hóa, những nhà truyền giáo phương Tây cũng đã đem lại những sự thay đổi về tổ chức kinh tế cho cộng đồng Kitô hữu: lối mua sắm đất đai, can dự vào việc phân chia giàu nghèo, lối làm ăn cho vay lấy lãi…”(6).

 

Nhà cách mạng Phan Bội Châu đã chỉ ra 4 lợi ích của Thiên Chúa giáo với quốc gia trong đó có “Thiên Chúa giáo chú trọng việc thờ phượng Thượng đế, không thờ thần nào khác, cho nên bớt được sự tốn kém vô ích về tế tự” (7). Tiết kiệm cũng là giải pháp phát triển kinh tế.

 

Trong kinh tế học, con người được coi là sức lao động quý giá nhất vì nó mới làm ra giá trị thặng dư nhưng chính tôn giáo lại góp phần đào tạo ra nguồn nhân lực có phẩm chất đạo đức nhân văn. Nhiều tôn giáo khuyên răn con người không sa đọa vào cõi “tham, sân, si”. Trong Thư chung ngày 19-12-1958, Giám mục Paul Seitz (Kim) viết:

 

Hãy trục xuất ra khỏi làng những ai mang rượu trắng đến bán. Hãy nói với những kẻ ấy rằng, anh em không muốn thứ hàng hóa của ma quỷ nhưng chỉ muốn họ đem bán các thứ thuốc men, hàng vải, những đồ vật hữu ích và tốt, những thực phẩm… Cũng như vấn đề thuốc phiện, hãy can đảm nói với những người đàn anh và đại diện chính quyền chắc chắn sẽ ủng hộ anh em giữ trọn những điều dốc quyết… Hãy tin chắc rằng, điều kiện thứ tư để người Thượng được tồn tại là phải diệt trừ bệnh rượu”.

 

Khi tệ nạn ma túy tràn lan trong xã hội Việt Nam, hồng y Phạm Đình Tụng đã ra Thư chung ngày 22-10- 1996 kêu gọi:

 

Tôi khẩn thiết kêu gọi mọi người hãy chung tay góp sức chặn đứng và tẩy sạch tệ nạn này ra khỏi gia đình và làng xóm chúng ta. Tôi đề nghị các Cha rao giảng về tai hại của tệ nạn này để mọi người hiểu rõ. Mỗi xứ họ cần có kế hoạch điều tra và phát hiện kịp thời số người nghiện hút. Các bậc cha mẹ phải thường xuyên theo dõi con em không để chúng đi lại những nơi có nguy cơ bị lôi cuốn hay giao tiếp với những con nghiện.

 

Đối với những người đã trót nghiện, cúng ta hãy lấy tinh thần bác ái khuyên bảo và làm mọi cách giúp đỡ họ cai nghiện càng sớm càng tốt, nếu không bệnh của họ sẽ lây sang người khác một cách nhanh chóng như vết dầu loang”.

 

Một nguyên nhân làm cho kinh tế phát triển không bền vững là do nạn tham ô, làm ăn gian dối, ăn trộm, ăn cắp vật tư, thiết bị… làm cho nhiều công trình mau hỏng, xuống cấp, hàng hóa kém chất lượng. Mà những nguyên nhân trên lại do con người mất đạo đức, tha hóa. Mà cái này, tôn giáo có thể góp phần xây dựng được. Nhiều tôn giáo đều khuyên tín đồ “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều gì mình không muốn, đừng làm cho người). Mình muốn ăn rau sạch sao lại trồng rau bẩn bán cho khách hàng?

 

Một vấn đề liên quan đến vai trò của tôn giáo đó là làm thay đổi tư duy trong đó có tư duy kinh tế của nhiều nhà cải cách Việt Nam ở thế kỷ XIX như sĩ phu Đinh Văn Điền, linh mục Đặng Đức Tuấn nhất là nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ khi mà ý thức hệ Nho giáo đang trói buộc con người. Một nhà nghiên cứu nhận xét:

 

May mắn (hay bất hạnh) cho ông là ông có cơ hội tiếp cận với một hệ hình tư duy chuẩn mực khác hẳn với hệ hình tư duy truyền thống: Thiên Chúa giáo. Cũng chính hệ hình tư duy Thiên Chúa giáo đã góp phần gián tiếp tạo ra một phong cách tư duy mới, đối trọng với tư duy Nho giáo” (8).

 

Vâng, nếu ông vẫn quan niệm “ý vua là ý trời” thì làm sao ông có 58 bản điều trần gửi về triều đình trong đó có những cải cách rất đáng ghi nhận về công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, thuế má mà ngày nay đọc lại chúng ta vẫn khâm phục về tính thời sự của nó.

 

Ngày nay việc du lịch tâm linh là loại hình rất được ưa chuộng. Những chùa Hương Sơn, Yên Tử, Bái Đính, nhà thờ Phát Diệm, Đà Lạt, nhà thờ Đức Bà Sài Gòn… chẳng những thu hút khách du lịch mà còn tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người nữa.

 

3- Vai trò kiến tạo và củng cố hòa bình

 

Hàng ngày mở TV, hay nghe đài, báo người ta chứng kiến vô số cuộc xung đột gây chết nhiều nhân mạng. Trong đó có rất nhiều cuộc chiến đẫm máu liên quan đến tôn giáo. Nào là người Tin lành với Công giáo ở Bắc Airland, người Phật giáo với Hồi giáo ở Myamar, người Công giáo với Ấn giáo ở Ấn Độ, người Công giáo với Hồi giáo ở Philippine, thậm chí người Hồi giáo theo dòng Sunnit với người Hồi giáo dòng Shiite ở Iraq. Nhiều người đặt câu hỏi: Vì sao các tôn giáo đều cổ vũ yêu thương, bác ái thương người mà lại sinh ra những nhóm cực đoan để chém giết lẫn nhau? Tìm hiểu các nguyên nhân xung đột ngày nay trên thế giới, tổ chức CCFD đã đưa ra báo cáo cho rằng nguyên nhân tôn giáo chiếm tỷ lệ đứng đầu tới 27,4%, vượt xa nguyên nhân chủng tộc 22,6%, kinh tế 18,8% (9). Nếu tôn giáo là một nguyên nhân của các cuộc xung đột thì chính tôn giáo phải góp phần kiến tạo hòa bình. GS Han King nói rất đúng rằng: “Không thể có hòa bình giữa các dân tộc trên địa cầu, nếu không có hòa bình giữa các tôn giáo”. Các buổi cầu nguyện cho hòa bình thế giới ở Assisi từ năm 1986 của các tôn giáo, tuần cầu nguyện cho hòa bình ở Syria năm 2014 của Vatican hay những tuyên bố gần đây của các nhà lãnh đạo tôn giáo về cuộc xung đột giữa Israel và Hamas, về cuộc tàn sát các tín đồ các tôn giáo khác ở Iraq. Lybia hiện nay đang thể hiện nỗ lực của các tôn giáo với hòa bình.

 

Việt Nam vẫn tự hào là không có xung đột tôn giáo nhưng hiềm khích, bạo động trong quá khứ không phải là không có nhất là dưới thời Pháp thuộc hay chế độ của Ngô Đình Diệm. Còn sau này là cạnh tranh, lôi cuốn tín đồ của nhau hay mâu thuẫn giữa tôn giáo lớn và tôn giáo nhỏ, giữa tôn giáo được Nhà nước công nhận và tôn giáo chưa hợp thức…

 

Trong lịch sử, sự va chạm giữa các tôn giáo đã từng xảy ra. Thời kỳ đầu, giáo hội Công giáo có cái nhìn khắt khe với các tôn giáo khác. Họ gọi các tôn giáo khác là đạo dối, là tà đạo cả. Trong Thư chung của Giám mục Pierre Marie Gendreau (Đông) đã cấm đoán thờ các vị sáng lập tôn giáo này và cấm cả giáo dân đến nơi thờ tự họ: “Những đối tượng không được thờ kính: ma quỷ, những đấng sáng lập đạo khác như Đức Khổng Tử, Đức Phật, ông bà ông vải. Những nơi cấm đến: đền chùa, những đình làng có thờ thần, không được cho mượn các đồ thờ” (10).

 

Trong chiến tranh cũng không hiếm những vụ va chạm để lại những vết hằn thù hận giữa giáo và lương như vụ nhà thờ Cao Mại (Thái Bình) bị đốt năm 1950, rồi Ba Làng (Thanh Hóa), Quỹ Nhất (Nam Định), Quỳnh Lưu (Nghệ An) những năm 1951-1953 hay vụ treo cờ Phật giáo ở Huế năm 1961…Sau công đồng Vatican 2, giáo hội Công giáo đã đi trước trong việc hòa giải, đối thoại với các tôn giáo khác vì đó là một chiều kích trong hội nhập văn hóa. Thư chung năm 2001, các Giám mục Việt Nam viết:

 

Trên đất nước ta, đa số đồng bào là người có tín ngưỡng và tôn giáo, cần có sự đối thoại để hiểu biết, tôn trọng, yêu thương và cùng nhau thăng tiến cuộc sống của mọi người. Sự đối thoại này trước hết phải diễn ra ngay trong cuộc sống hàng ngày giữa các tín đồ cùng sống trong một thôn xóm, khu phố qua cách giao tiếp làm ăn, buôn bán với nhau như chia sẻ cơm áo cho nhau. Tôn giáo phải là nền tảng cho người ta xích lại gần nhau. Ngoài ra, sự gặp gỡ thân tình giữa các vị lãnh đạo tôn giáo các cấp sẽ tác động trên tín đồ, cổ vũ sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, hợp tác với nhau trong việc phục vụ hạnh phúc đồng bào” (số 13).

 

Đến Thư chung năm 2003, các Giám mục Việt Nam đã gọi các tôn giáo khác là “tôn giáo bạn”. Từ đó, việc thăm hỏi nhau những ngày lễ tết đã là một nét đẹp trong giao tiếp các tôn giáo. Khái niệm “làng xôi đỗ” bây giờ không chỉ còn 2 tôn giáo là Công giáo và Phật giáo mà còn là làng của nhiều tín đồ các tôn giáo khác nữa sống chan hòa, đầm ấm bên nhau. Họ cùng chung ngày lễ tôn giáo của nhau, cùng nhau góp của, góp công xây dựng cả chùa, cả nhà thờ các tôn giáo. Một số nơi còn chủ động hòa giải những vết rạn quá khứ. Tại nhà thờ Cao Mại, tết năm 2000, Giám mục Nguyễn Văn Sang đã làm như vậy. Giám mục Nguyễn Văn Sang nói:

 

Tôi hy vọng sự có mặt của tôi trên mảnh đất Cao Mại này sẽ đem lại an ninh trật tự cho Cao Mại nói riêng và mảnh đất Thái Bình này nói chung…Trong thánh lễ hôm ấy, khi đến phần chúc bình an, tôi mời gọi mọi người hãy bắt tay và hôn nhau. Chính tôi đã ôm hôn một vị Hòa thượng, ông Bí thư, ông Chủ tịch ở trên cung thánh để biểu hiện sự tha thứ và hòa hợp” (11).

 

Nhiều nơi, cư dân ở những làng “xôi đỗ” đã đề ra những hương ước để xử lý hài hòa quan hệ giữa các nhóm dân cư theo các tôn giáo khác nhau. Hương ước làng La Tính (Hoài Đức, Hà Nội) năm 1896 viết:

 

Vì bản xã hai bên lương giáo có tục lệ khác nhau một phần, phải hội họp để bàn công việc hợp lý, hợp tình, chia giáp, chia phiên, lập khoán ước mới quy định tục lệ các khoản, chia ruộng đất thờ thần phật, mọi người phải tuân theo. Tất cả các loại sưu thuế, đê điều phu dịch, lương lính, lương dân và giáo dân đều coi đó là việc chung phải chấp hành” (12).

 

Sau này, khi chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã xác định “Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Chính điều này đã góp phần giữ được sự đoàn kết giữa các tôn giáo hiện nay.

 

4- Tôn giáo tham gia phát triển xã hội

 

Có một thời, một số người quan niệm tôn giáo là lạc hậu, là vật cản bước tiến của xã hội. Trong không ít báo cáo của địa phương vùng có đồng bào tôn giáo nhất là Công giáo đều coi đó là lý do khó khăn, cản trở sự đi lên của địa phương. Nhưng có thể phản biện, các nước tiên tiến, văn minh giàu có trên thế giới đều có tôn giáo. Không thấy họ nói tôn giáo kìm hãm tiến bộ quốc gia. Thậm chí, một số nước còn coi tôn giáo như là một cầu nối với thế giới để phát triển đất nước. Mông Cổ là ví dụ. Đất nước này, sau khi Liên Xô sụp đổ, dù nước họ không có tín đồ Công giáo, họ vẫn thiết lập quan hệ ngoại giao với Tòa thánh Vatican năm 1991 để mời các tổ chức từ thiện vào. Cămpuchia cũng vậy. Đây là đất nước Phật giáo nhưng vẫn quan hệ với Vatican để mời các dòng tu vào góp phần phục hồi đất nước sau nạn diệt chủng.

 

Một truyền thống và là thế mạnh của các tôn giáo đấy là làm giáo dục và y tế. Bởi đây là những lĩnh vực cần đến tình yêu thương con người. Trước năm 1970, một thống kê cho biết, riêng giáo hội Công giáo ở miền Nam đã quản lý 1030 trường tiểu học với 258.409 học sinh Công giáo và 97.347 học sinh không Công giáo; 226 trường trung học với 82.827 học sinh Công giáo và 70.101 học sinh không Công giáo; 41 bệnh viện với 7000 giường, 239 trạm phát thuốc; 36 nhà hộ sinh; 9 trại phong với 2.500 bệnh nhân; 82 cô nhi viện với 11.000 trẻ em; 29 nhà dưỡng lão (13). Sau năm 1975, hầu hết các cơ sở này không tồn tại. Từ những năm 1990, Nhà nước mới cho phép Giáo hội mở nhà trẻ mẫu giáo và cấp 1, phòng khám bệnh tình thương. Theo Niên giám của Hội đồng Giám mục Việt Nam, năm 2005 Giáo hội Công giáo đang quản lý 675 trường mẫu giáo, 145 trường cấp 1, 28 trung tâm dạy nghề, 96 trạm xá, 5 trung tâm chăm sóc người bị HIV/AIDS và chất độc da cam, 123 cô nhi viện và nhà dưỡng lão. Rõ ràng, con số trên chưa phản ánh đúng nhu cầu của xã hội và khả năng của các tôn giáo. Bằng chứng là những nhà trẻ do phía Công giáo quản lý luôn quá tải do nhu cầu phụ huynh, mặc dầu Nhà nước hạn chế chỉ tiêu tuyển sinh. Hay khi Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh mở Trung tâm chăm sóc người bị bệnh HIV/AIDS ở Bình Dương đã không thể tuyển được y bác sĩ đến phục vụ dù tăng lương bổng nên phải nhờ Hồng y Phạm Minh Mẫn giúp và 9 nữ tu là bác sĩ, y sĩ, y tá đã đến đây và bây giờ lên tới 40 tu sĩ đã có mặt. Nhiều dòng tu có khả năng làm giáo dục như dòng Don Bosco, dòng Đa Minh đã phải chuyển các dự án của mình ra nước ngoài. Có những dự án nhân đạo chăm sóc trẻ mồ côi của Mẹ Terêsa Can-cút-ta chỉ được mấy tháng ở Sơn Tây là phải đóng cửa vì thủ tục khó khăn. Đây là thiệt thòi cho đất nước và làm cho tôn giáo không phát huy được tiềm năng của mình.

 

Rõ ràng, Nhà nước cần đổi mới chính sách để đáp ứng chủ trương xã hội hóa y tế, giáo dục để huy động sự đóng góp của các tôn giáo. Những trung tâm chăm sóc trẻ em tật nguyền hay người già không nơi nương tựa ở Đà Nẵng trước đây do Nhà nước quản lý nhưng kém hiệu quả, nay giao cho Giáo hội quản lý đã làm cho chúng năng động hơn hoặc Trường cao đẳng dạy nghề của Công giáo đầu tiên đã được thành lập ở Xuân Lộc là những dấu hiệu vui. Tuy nhiên, cũng cần phải có hướng dẫn để các tôn giáo vận hành chặt chẽ hơn, tránh để xảy ra các vụ việc tiêu cực như chùa Bồ Đề trong việc nuôi dạy trẻ mồ côi hiện nay.

 

TS. Phạm Huy Thông
Trưởng ban Tư duy Tôn giáo, Trung tâm Khoa học Tư duy CTS. 

Nguồn tin: Sưu tầm

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: tôn giáo

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn