16:33 ICT Thứ sáu, 22/06/2018

Menu

Mặt trước giáo xứ Trung Đồng
Linh mục Nguyễn Văn Thao

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 44


Hôm nayHôm nay : 2265

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 65929

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7226886

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Giáo xứ Trung Đồng?

Rất rõ.

Rõ.

Một ít.

Không biết gì.

Trang nhất » Tin Tức » Các Thánh » Các Thánh Tử Đao

TÀI LIỆU HỌC HỎI: LỊCH SỬ GIÁO PHẬN VÀ CÁC VỊ THÁNH TỬ ĐẠO GIÁO PHẬN THÁI BÌNH

Thứ sáu - 25/11/2011 23:31
TÀI LIỆU HỌC HỎI: LỊCH SỬ GIÁO PHẬN VÀ CÁC VỊ THÁNH TỬ ĐẠO GIÁO PHẬN THÁI BÌNH

TÀI LIỆU HỌC HỎI: LỊCH SỬ GIÁO PHẬN VÀ CÁC VỊ THÁNH TỬ ĐẠO GIÁO PHẬN THÁI BÌNH

TÀI LIỆU HỌC HỎI: LỊCH SỬ GIÁO PHẬN VÀ CÁC VỊ THÁNH TỬ ĐẠO GIÁO PHẬN THÁI BÌNH MỪNG KỶ NIỆM 75 NĂM THÀNH LẬP GIÁO PHẬN THÁI BÌNH

 

Nội dung:
- Sứ điệp của Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010
-   Lược sử Giáo Phận Thái Bình
- Gương 19 Thánh Tử Đạo quê hương Thái Bình
 
Sứ điệp của Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010
 
1. Trong Năm Thánh 2010 nhân kỷ niệm 350 năm thiết lập hai Địa phận Tông toà đầu tiên và 50 năm thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã triệu tập Đại hội Dân Chúa, từ ngày 21 đến 25-11-2010, tại Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận TP. HCM. Hiện diện tại Đại Hội, có 32 giám mục, 300 đại biểu linh mục, tu sĩ, giáo dân thuộc 26 giáo phận và các dòng tu trên cả nước. Đại Hội hân hạnh đón tiếp các vị đại diện đến từ các Giáo hội Canada, Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp, Thái Lan, và đại diện các cộng đoàn Công giáo Việt Nam hải ngoại.
Từ khắp mọi miền đất nước quy tụ về đây như anh chị em dưới một mái nhà, đây chính là thời điểm của ân sủng và kinh nghiệm quý báu Chúa ban cho Hội Thánh tại Việt Nam. Xin dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về hồng ân cao quý này. Đồng thời, ý thức rằng trong suốt thời gian đại hội, được anh chị em tín hữu Công giáo tại Việt Nam cũng như hải ngoại luôn đồng hành trong lời cầu nguyện và qua những ý kiến đóng góp cho đại hội, xin gửi đến mọi người lời cảm ơn chân thành nhất.
2. Đại hội Dân Chúa được khai mạc trọng thể vào ngày lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, 21-11-2010, tại Vương cung Thánh đường Đức Bà Sài Gòn với sự tham dự đông đảo của anh chị em tín hữu. Cử hành lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ để khai mạc đại hội giúp chúng tôi xác tín hơn vào sứ mạng của Hội Thánh. Chúa Kitô đã thiết lập Nước Thiên Chúa là “vương quốc của sự thật và sự sống, vương quốc thánh thiện và toàn phúc, vương quốc công chính, yêu thương và an bình”. Hội Thánh Chúa Kitô có mặt trong lịch sử nhân loại với sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa trong quyền năng của Thánh Thần. Cũng thế, Hội Thánh Chúa Kitô tại Việt Nam có sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, tiếp nối sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô, góp phần kiến tạo nền văn hoá sự sống và văn minh tình thương trên quê hương đất nước này.
3. Sứ mạng đó đòi hỏi Hội Thánh phải đổi mới không ngừng để thực sự là Hội Thánh Chúa Kitô giữa lòng quê hương Việt Nam. Chúng tôi xác tín rằng Hội Thánh tại Việt Nam không phát xuất từ sáng kiến và nỗ lực của con người nhưng hoàn toàn phát xuất từ Thiên Chúa, sống nhờ Ngài và hướng tới Ngài. Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, điều quan trọng nhất vẫn là củng cố, canh tân, đào sâu mối hiệp thông của mỗi người tín hữu cũng như của mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa và cử hành Thánh Thể. Cử hành Thánh Thể phải thực sự trở thành tâm điểm trong đời sống Hội Thánh tại Việt Nam. Để được như thế, cử hành Thánh Thể cần được nối dài bằng cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa, đào sâu chân lý đức tin. Ước mong rằng trong những năm sắp tới, Hội Thánh tại Việt Nam sẽ đẩy mạnh việc phổ biến và học hỏi Lời Chúa bằng những phương thế khác nhau, để Lời Chúa thực sự trở thành của ăn nuôi dưỡng tâm hồn, kim chỉ nam và ánh sáng soi dẫn mọi quyết định và chọn lựa của các tín hữu.
4. Đại Hội cũng xác tín rằng để thực sự là Hội Thánh của Chúa Kitô nhập thể và nhập thế, Hội Thánh tại Việt Nam phải nhập thể vào văn hoá và lịch sử của dân tộc mình. Trong hơn 4 thế kỷ hiện diện tại Việt Nam, Hội Thánh đã góp phần không nhỏ vào đời sống và sự phát triển của đất nước. Chính những người Công giáo đầu tiên đã tạo ra chữ quốc ngữ mà mọi người Việt Nam hiện đang sử dụng. Các trường Công giáo đã đào tạo biết bao nhân tài cho đất nước. Cũng chính người Công giáo đã đem những giá trị nhân văn thấm vào đời sống xã hội như tôn trọng sự sống và phẩm giá con người, sự bình đẳng, tình bác ái, tinh thần phục vụ, hi sinh. Tiếp nối công trình của cha ông, Hội Thánh ngày nay cũng phải dấn thân vào việc xây dựng đất nước về mọi mặt: văn hoá xã hội, cũng như kinh tế chính trị, vì ý thức rằng: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, đối với người Công giáo, không những là một tình cảm tự nhiên phải có, mà còn là một đòi hỏi của Phúc Âm”. Khi dấn thân xây dựng xã hội trần thế, Hội Thánh “không hề muốn thay thế Chính Quyền, nhưng chỉ mong rằng trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng lẫn nhau, Hội Thánh có thể góp phần mình vào đời sống của Đất nước, nhằm phục vụ tất cả mọi người dân”. Đó cũng là lời chứng cho mọi người thấy vẻ đẹp đích thực của Tin Mừng như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhắn nhủ tất cả chúng ta, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân: “Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc quý trọng công ích, anh chị em phải chứng tỏ rằng người công giáo tốt cũng là người công dân tốt”.
5. Hội Thánh tại Việt Nam còn phải canh tân chính mình qua nỗ lực xây dựng Hội Thánh như một gia đình, trong đó mọi người hiệp thông với nhau như anh chị em một nhà, bình đẳng với nhau trên nền tảng ơn gọi làm người và làm con Chúa, chia sẻ cùng một sứ mạng và trách nhiệm dù được thể hiện trong những bậc sống và nhiệm vụ khác nhau. Sự hiệp thông này vừa là đòi hỏi vừa là lời chứng cần thiết mà Hội Thánh phải bày tỏ trước mặt mọi người như Chúa Giêsu đã thiết tha cầu nguyện: “Xin cho họ nên một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong Chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21). Trong những ngày Đại Hội, chúng tôi cảm nghiệm được bầu khí hiệp thông huynh đệ này khi mọi thành phần Dân Chúa sống chung với nhau như anh chị em trong một gia đình, cùng lắng nghe tiếng Chúa qua cầu nguyện, chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm và suy tư về Hội Thánh qua các bài thuyết trình, tham luận và hội thảo, với thao thức xây dựng Hội Thánh như lòng Chúa mong muốn. Sự hiện diện của đại diện các Giáo Hội chị em lại mở rộng hơn nữa chân trời hiệp thông trong Hội Thánh Chúa Kitô. Ước mong bầu khí huynh đệ này được trải rộng và thấm sâu vào đời sống Hội Thánh tại Việt Nam ở mọi cấp độ, trong mỗi gia đình, mỗi giáo xứ, mỗi dòng tu, mỗi giáo phận.
Để bày tỏ khuôn mặt Hội Thánh như một gia đình, đại hội kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa hợp tác chặt chẽ với nhau trong tình hiệp nhất yêu thương. Xin anh chị em giáo dân tích cực tham gia vào đời sống và sứ mạng của Hội Thánh bằng những khả năng chuyên môn Chúa ban cho mình. Các gia đình Công giáo được mời gọi giữ vững và củng cố ơn gọi hôn nhân Kitô giáo, xây dựng gia đình như Hội Thánh tại gia, cái nôi của sự sống, mái ấm của tình thương và ngôi trường đầu tiên đào tạo con người toàn diện. Đối với các bạn trẻ, xin các bạn nhiệt thành tham gia vào những sinh hoạt của Hội Thánh để đem sức sống và sự tươi trẻ cho đời sống Hội Thánh. Gia đình và giáo xứ phải quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục các đức tính nhân bản cho thiếu nhi, để sau này trở nên những con người hữu ích cho xã hội và Hội Thánh. Ước mong các tu sĩ thực sự trở nên dấu chỉ và chứng nhân sống động của tình yêu vô điều kiện mà Thiên Chúa dành cho con người, nhất là những người bé mọn trong xã hội. Đại Hội nhấn mạnh vai trò của các giám mục và linh mục trong Hội Thánh. Công cuộc canh tân Hội Thánh cần được bắt đầu từ hàng linh mục, vì thế ước mong các giám mục và linh mục Việt Nam không chỉ là người quản trị giỏi nhưng trước hết là người của Chúa và là những mục tử nhân lành, biết gắn bó với Chúa Giêsu trong cầu nguyện để có thể phục vụ cộng đoàn theo gương Thầy chí thánh, biết tôn trọng và phát huy vai trò người giáo dân trong tinh thần đối thoại và cộng tác.
6. Để thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô trong hoàn cảnh ngày nay, Hội Thánh phải là chất xúc tác của nền văn hoá sự sống và văn minh tình thương trên đất nước Việt Nam. Trong hai thập niên vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, có nhiều điều đáng lo ngại cho tiền đồ của dân tộc. Nạn phá thai, ly dị, ma tuý, mãi dâm, sự gia tăng cách biệt giàu nghèo, tình trạng bất công, bóc lột, tham nhũng, tàn phá môi sinh… tất cả đang có chiều hướng gia tăng và là những dấu hiệu cụ thể của “nền văn hoá sự chết”. Xác tín rằng Tin Mừng là “men của tự do và tiến bộ, nguồn của tình huynh đệ, của khoan dung và hoà bình” [6], nên hơn ai hết, người Công giáo Việt Nam có sứ mạng kiến tạo nền văn hoá sự sống và văn minh tình thương trên đất nước này, đồng thời sẵn sàng đối thoại chân thành và cộng tác lành mạnh với mọi người thiện chí, không phân biệt tôn giáo hay chính kiến, nhằm phục vụ sự phát triển toàn diện của mọi người trong xã hội, nhất là những người nghèo khổ và bị bỏ rơi. Trong tinh thần đó, chúng tôi đề nghị Chính quyền Việt Nam mở rộng cánh cửa cho các tôn giáo tham gia vào việc giáo dục học đường và y tế cộng đồng, vì ích lợi của người dân và của cả dân tộc.
7. Đối chiếu với sứ mạng cao cả đã lãnh nhận từ Chúa Giêsu: “Anh em phải là muối cho đời, ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,13.14), chúng tôi nhìn nhận mình còn nhiều lỗi lầm thiếu sót, vì thế khiêm tốn xin Chúa và anh chị em trong cũng như ngoài Hội Thánh tha thứ cho. Hội Thánh cũng nhớ đến biết bao khổ đau, bất công, bách hại đã phải chịu trong suốt chiều dài lịch sử của mình, không phải để nuôi dưỡng oán thù nhưng để tha thứ và cầu nguyện cho những người đã bách hại Hội Thánh, theo gương Chúa Kitô là Đấng đã hoàn tất công trình cứu chuộc trong sự khó nghèo và bị bách hại. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam vừa là gương mẫu vừa là động lực thúc đẩy Hội Thánh thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô trên quê hương đất nước mình.
8. Đại hội Dân Chúa Việt Nam kết thúc nhưng lại mở ra cho những bước chân hy vọng, niềm hy vọng được khơi nguồn và hoàn tất nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Tất cả những ý kiến của Đại Hội sẽ được đúc kết thành những đề nghị, là chất liệu chính của văn kiện hậu Đại Hội, nhằm đưa ra những định hướng và kế hoạch mục vụ của Hội Thánh Việt Nam trong những năm sắp tới. Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến (Kh 22,20). Đây vừa là lời cầu xin vừa diễn tả niềm khao khát và hy vọng của đại hội. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ La Vang và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin Chúa ngự đến trong tâm hồn mỗi người chúng con và biến đổi chúng con thành môn đệ đích thực của Chúa. Xin Chúa ngự đến trong mỗi gia đình Công giáo, để gia đình trở thành cộng đoàn thờ phượng Chúa, hiệp nhất yêu thương nhau và cùng nhau làm chứng cho Tin Mừng Nước Trời. Xin Chúa ngự đến và hiệp nhất tất cả chúng con trong cùng một sứ mạng yêu thương và phục vụ, quyết tâm xây dựng nền văn hoá sự sống và văn minh tình thương, để dung nhan Chúa bừng sáng trên quê hương Việt Nam chúng con. Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến.
Làm tại Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận TP. HCM,
Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 2010
Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010


 

LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN THÁI BÌNH
 
Giáo phận Thái Bình được xây dựng bằng ân sủng của Thiên Chúa và xương máu các thánh tử đạo. Quá trình phát triển đầy bi hùng này đã làm nảy sinh một Giáo phận trẻ được thành lập muộn nhất trong Tổng Giáo phận Hà Nội (1936).
 
I. GIÁO PHẬN THÁI BÌNH TỪ KHI ĐÓN NHẬN ĐÓN NHẬN TIN MỪNG ĐẾN NĂM 1936
 
1. Lịch sử truyền giáo tại phần đất Thái Bình 
Riêng phần đất thuộc Giáo phận Thái Bình ngày nay, lần theo vết lịch sử, chúng tôi thấy một dấu chấm khởi đầu cho công cuộc truyền giáo, qua một bài thơ chữ hán được lưu truyền ở xứ Kẻ Bái:
Đế hiệu Dương Hòa đệ tứ niên,
Dương nhân thu tiết đáo giang biên,
Sĩ lê Bồ Bái đa hân thụ,
Chân đạo Giatô dĩ khả truyền.
Hiệu vua Dương Hòa năm thứ bốn, 1638, đã có một thừa sai ngoại quốc đến ven sông thuộc làng Bồ Trang, Kẻ Bái để giảng đạo. Người dân ở đây, kẻ có học cũng như người bình dân, đều hân hoan đón nhận và tin đạo Chúa Kitô là đạo thật, phải giữ và lưu truyền cho hậu thế.
Năm 1626, cũng có một vài thừa sai đến Đàng Ngoài thăm dò cánh đồng truyền giáo, được chúa Trịnh tiếp nồng hậu, nhưng vì không biết tiếng Việt nên không thể giảng đạo. Vị thừa sai đó phải trở lại Macao để xin bề trên sai các nhà truyền giáo từ Đàng Trong trở về Macao, rồi từ đó mới đến Đàng Ngoài giảng đạo.
Ngày 19-03-1627, cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) và cha Marqes từ Macao đến từ cửa Bạng, Thanh Hoá, rồi lên Thăng Long, các cha đã giảng đạo ở Đàng Trong nên đã rành tiếng Việt. Được chúa Trịnh cho phép truyền đạo Công Giáo, cha Đắc Lộ đã hăng say giảng rao Tin Mừng ngay tại kinh đô và tiếp tục nghiên cứu, hệ thống hóa cách dùng mẫu tự Latinh để ghi cách phát âm tiếng Việt. Cha đã dùng mẫu tự Latinh viết cuốn sách Phép Giảng Tám Ngày (tên đầy đủ là “Phép Giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức Chúa Trời: Cathechismus pro iis qui volunt suscipere Baptismum in octo dies divisus”), một cuốn giáo lý đầu tiên bằng tiếng Việt.
Những năm kế tiếp, Macao lại lần lượt gửi thêm thừa sai đến Đàng Ngoài. Vào thập kỷ 1630, cha Felice Morelli được gửi đến Bắc Hà. Sau một thời gian học tiếng Việt, năm 1633, cha Morelli được phái đi giảng đạo tại miền Nam Kẻ Chợ, tức miền Nam Định (lúc ấy gọi là trấn Sơn Nam). Năm 1638 cha đến Kẻ Bài, làng Bồ Trang bằng đường sông Luộc. Ngài ghé vào làng rao truyền chân lý Phúc Âm. Được dân làng niềm nở tiếp đón, cha đã trụ lại tại Kẻ Bái làm bàn đạp tung gieo Tin Mừng đến các làng xa hơn trong Phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam.
Cha hoạt động ở vùng Kẻ Bái, trên phần đất Giáo phận Thái Bình ngày nay, sao chép cuốn Phép Giảng Tám Ngày làm tài liệu giảng đạo. Bài vè Lập xứ Kẻ Bái có nói rõ:
Nhiều người trong xã Bồ Trang,
Học theo đạo mới xem dường khi nay.
Bày ra Phép Giảng Tám Ngày,
Ai tin học hết thì thầy rửa cho.
Đến năm 1640, cha Morelli thay thế cha bề trên Gaspar d’Amaral, lãnh đạo giáo đoàn Đàng Ngoài. Cũng thời gian này vua Lê, chúa Trịnh rất có cảm tình với các thừa sai, nên năm 1645, chúa Trịnh đã nhận cha Morelli làm dưỡng tử, gọi cha bằng tên Việt Nam là Phúc Ông (dịch chữ Felice tên của cha). Trong hoàn cảnh thuận lợi cả về phía đời cũng như đạo như vậy, nên cha đã lập xứ đầu tiên trên phần đất Giáo phận Thái Bình ngày nay, đó là xứ Kẻ Bái. Theo bài vè trên thì ngày thành lập xứ là lễ Phục Sinh năm 1645, “lúc hết mùa Giêgiung” (Ghiêgiung, phiên âm tiếng Latinh Jejuium có nghĩa là mùa Chay). Ngày thành lập (khoảng năm 1645), địa bàn xứ Kẻ Bái rất rộng:
Bảy năm đi hết cả miền,
Thì thầy ở lại hẳn miền Bồ Trang,
Lập nên xứ Bái rõ ràng,
Nam xuống Lai Ổn, đông sang Ninh Cù.
Chuông treo trống sắm cờ mua,
Bấy giờ là lúc hết mùa Giêgiung.
Hạt giống Tin Mừng đã được tung gieo trên phần đất Thái Bình, mà hạt đầu tiên nẩy mầm trên Kẻ Bái Bồ Trang. Xứ Kẻ Bái đã trở thành cái nôi Đức Tin của Giáo phận. Sử Ký Giáo phận Trung khi viết về xứ Cao Mộc đã xác định điều này: “Xứ này trước thuộc về xứ Kẻ Thái như các xứ khác thuộc về Phủ Thái”. Mệnh đề này quả quyết xứ Cao Mộc cũng như các xứ khác trên đất Phủ Thái, trước khi trở thành Giáo xứ đều liên thuộc xứ Kẻ Bái.
Năm 1649, cha Morelli trao quyền lãnh đạo giáo đoàn Đàng Ngoài cho cha Girolamo Magori, để rồi năm 1650, cha trở về Macao. Trên đường về, tàu cha đi gặp tai nạn chìm sâu dưới lòng biển, cha đã tới bến Thiên Đàng.
Như vậy, chúng ta có thể quả quyết rằng thừa sai Felice Morelli, một linh mục Dòng Tên, quốc tịch Italy, là tổ phụ truyền giáo của Giáo phận Thái Bình. Ngài trực tiếp gieo rắc hạt giống Tin Mừng trên phần đất Giáo phận từ năm 1638 cho đến năm 1649. Trong hơn mười năm, ánh sáng Đức Tin từ Kẻ Bái đã rọi chiếu đến các làng xa hơn, trên đất Phủ Thái.
Các thừa sai Dòng Tên (cũng có thừa sai Dòng Augustino, Dòng Phanxicô) là những thợ Phúc Âm khai phá lòng Tin của các tín hữu miền Bắc Việt Nam. Đến khi Đức cha Francois Pallu, Giám mục tông tòa Giáo phận Đàng Ngoài Việt Nam bị bão giạt vào Phi Luật Tân, năm 1673, gặp được cha bề trên tỉnh hạt Rất Thánh Mân Côi Dòng Đaminh, Đức cha đã xin tỉnh Dòng phái thừa sai sang Việt Nam giúp Giáo phận Đàng Ngoài của ngài. Sau thời gian đó, Phố Hiến mới trở thành nơi tiếp đón các nhà truyền giáo, nhất là các thừa sai Dòng Đa Minh từ Phi Luật Tân tới (1676).
2. Thiết lập Giáo phận
Ngày 21-03-1890, nhà cầm quyền Pháp thành lập tỉnh Thái Bình, lấy phủ lị của Phủ Thái làm trụ sở của cơ quan Hành chánh tỉnh. Họ đạo tại phủ lị của Phủ Thái hồi đó còn bé nhỏ gọi là họ Kỳ Bá, thuộc xứ Sa Cát. Gọi là họ đạo nhưng thật ra số tín hữu quá ít ỏi, không thể làm được một nhà nguyện nhỏ. Kỳ Bá hay Kỳ Bố, cũng gọi là Bố Hải khẩu, Kỳ Bá có tên bộ là Bo (như bến đò Bo, rồi cầu Bo). Cha Phêrô Munagorri Trung, cha xứ Sa Cát đương thời, đã nhìn thấy viễn tượng Thái Bình sẽ là nơi đặt một Toà Giám mục. Vì thế năm 1906, cha đã xây cất nhà thờ tỉnh lị Thái Bình là một thánh đường kiểu gothic nguy nga đồ sộ. Hai năm sau cha Trung lên làm Giám mục, ngày 17-08-1908, ngài đã thành lập giáo xứ Thái Bình, gồm 11 họ lẻ cắt từ xứ Cổ Việt và xứ Sa Cát, với hơn hai ngàn tín hữu. Cha Tràng An (Marcos Gispert) làm cha chính xứ đầu tiên.
Giáo phận Trung là Giáo phận truyền giáo lớn. Mấy chục năm sau, Đức cha Perdo Munagorri Trung đã đem đến điểm cực thịnh, nên trở thành quá lớn đối với một chủ chăn. Các bề trên nhận thấy là cần phải phân chia. Ngay từ năm 1934, Đức Thánh Cha Piô XI đã có ý chia Giáo phận Bùi Chu làm hai, đồng thời dần dần chuyển quyền lãnh đạo Giáo phận cho hàng giáo sĩ bản quốc. Ngày 12-03-1935, Đức Thánh Cha đã cử cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn làm Giám mục phó Bùi Chu với quyền kế vị. Giáo phận Bùi Chu là Giáo phận thứ hai chuyển giao cho hàng giáo sĩ Việt Nam (sau Giáo phận Phát Diệm, Đức cha Nguyễn Bá Tòng, 10-01-1933). Vì thế khi thành lập Giáo phận Thái Bình, các thừa sai Tây Ban Nha đều bỏ Bùi Chu sang Giáo phận Thái Bình.
Ngày 09-03-1936, bằng một sắc lệnh Praecipuas inter Apostolicas: (Những Ưu Tư Tông Đồ), Đức Thánh Cha Piô XI đã thiết lập Giáo phận Thái Bình. Sắc Lệnh chỉ rõ: tỉnh Hưng Yên (không trọn: 4 huyện cực bắc không thuộc Giáo phận Thái Bình) và tỉnh Thái Bình được tách khỏi Giáo phận Bùi Chu, để thành lập Giáo phận Thái Bình. Toà Giám mục đặt tại tỉnh lị Thái Bình. Dự đoán của Đức cha Trung, lúc còn là cha xứ Sa Cát, trở thành hiện thực.
Theo thống kê năm 1939 của Les Missions Catholiques en Indochine thì Giáo phận Thái Bình, sau khi thành lập, có nhân sự phục vụ tín hữu khá hùng hậu, thống kê viết: 1 vị Giám mục tông tòa - Đức cha Joan Casado Thuận, 25 linh mục Dòng Đaminh, người Tây Ban Nha, 57 linh mục người Việt Nam, 333 thầy giảng, 12 sư huynh Lasan, 10 nữ tu Dòng Thánh Phaolô, 280 nữ tu Dòng ba Đaminh, 140.000 tín hữu trong 50 giáo xứ và 552 họ lẻ.
3. Sắc chỉ thiết lập Giáo phận
Sau đây là toàn văn bản Sắc lệnh “Praecipuas inter Apostolicas: Những ưu tư Tông đồ”, đã được dịch như sau:
Tông thư Tòa Thánh cắt một phần lãnh thổ của Giáo phận tông toà Bùi Chu, xứ Đông Dương, lập thành Giáo phận mới Thái Bình và trao cho Dòng Đaminh coi sóc. Giáo phận Bùi Chu, phần còn lại, trao cho hàng giáo sĩ bản quốc.
PIÔ Giám mục
Tôi tớ các tôi tớ Chúa
để muôn đời ghi nhớ
Trong những ưu tư tông đồ đặc biệt của nhiệm vụ chúng tôi, mối ưu tư thúc bách chúng tôi hết sức là mở rộng nước Chúa Kitô ngày một rộng hơn nữa tại các quốc gia ngoại giáo. Để đạt mục đích ấy, hàng giáo sĩ linh mục bản quốc tỏ ra thích thuận hơn cả. Họ rất dễ liên lạc với đồng bào họ và do đó, có thể kêu mời và dẫn đưa đồng bào họ gia nhập Giáo Hội dễ dàng hơn. Điều ấy chúng tôi đã thấy trước mắt, và xét rằng Giáo phận tông tòa Bùi Chu là rất rộng, chỉ một vị chủ chăn thì hầu như khó cai quản. Vì thế, năm ngoái [1935], chúng tôi đã nghĩ phải cắt bớt lãnh thổ của Giáo phận ấy, một phần sẽ trao cho hàng giáo sĩ bản quốc. Trong khi đó, chúng tôi đã đặt một Giám mục phó với quyền kế vị hiền đệ Phêrô Munagorri y Obineta [Đức cha Trung], Giám mục tông tòa Bùi Chu. Giám mục phó ấy là hiền đệ Đaminh Hồ Ngọc Cẩn, chọn trong hàng giáo sĩ bản quốc, chúng tôi đặt làm Giám mục tòa hiệu Zenobia. Đến nay xem ra đã thích thuận việc chia Giáo phận Bùi Chu nói trên mà chúng tôi rất ước mong, để đưa tới hiệu quả đã nói. Giáo phận Bùi Chu này gồm ba tỉnh hành chính, mặc dầu không trọn, tức tỉnh Nam Định, Thái Bình và Hưng Yên. Tỉnh Nam Định rất thịnh đạt về các việc đạo và từ thiện, hàng linh mục bản quốc và giáo dân đông đảo. Chúng tôi nghĩ đem phần đất thuộc Giáo phận Bùi Chu ấy [trừ tỉnh Nam Định không trọn] trao cho hàng giáo sĩ bản quốc thì sẽ sinh ích lợi lớn lao cho các linh hồn. Còn hai tỉnh kia, tức Thái Bình và Hưng Yên [không trọn], vì việc đạo ít tiến bộ hơn, nên vẫn trao cho các thừa sai ngoại quốc cai quản, thì chúng tôi nghĩ sẽ có lợi hơn cho lợi ích thiêng liêng của giáo dân.
Xét như thế, với sự cố vấn của các hiền đệ hồng y đứng đầu Thánh bộ Truyền giáo, chúng tôi quyết định chia lãnh thổ Giáo phận tông toà Bùi Chu, cắt lấy phần thuộc tỉnh Thái Bình và Hưng Yên từ trước vốn thuộc Giáo phận ấy, lập thành một Giáo phận tông tòa mới, gọi là Giáo phận Thái Bình, theo tên của tỉnh đầu mang tên ấy. Chúng tôi uỷ thác Giáo phận mới này cho Dòng Đaminh, mà các thừa sai của dòng ấy đã rất có công trong việc truyền bá đức tin tại Giáo phận Bùi Chu. Các vị ấy đã lao công lâu dài không mệt mỏi để xây dựng Giáo phận được hưng thịnh đến ngày nay. Vì thế chúng tôi nhượng Giáo phận tông tòa Thái Bình và các vị đại diện tông tòa Giáo phận ấy, tùy thời gian, được hưởng hết mọi quyền lợi, đặc ân và năng quyền mà các Giáo phận tông tòa khác, cũng như các Giám mục Giáo phận trên khắp hoàn cầu, được hưởng theo luật chung, đồng thời cũng buộc các vị ấy phải gánh lấy hết mọi bổn phận và trách vụ theo luật nữa.
Về Giáo phận tông tòa Bùi Chu, với phần lãnh thổ còn lại như đã nói trên, trong giới hạn tỉnh hành chính Nam Định, thì cứ giữ nguyên tên cũ, và được ủy thác cho hàng giáo sĩ bản quốc theo tông thư này, nhưng hiện thời vẫn ở dưới quyền cai quản của vị Giám mục đại diện tông tòa hiện nay là hiền đệ Phêrô Munagorri y Obineta [Trung], Giám mục hiệu tòa Pitycentini.
Tất cả những điều qui định và thiết chế trên, chúng tôi muốn truyền hẳn là đã được quyết nghị và có hiệu lực bất chấp bất cứ một ai làm trái lại. Những bản sao của Tông thư này, cả được in ra, cũng phải có chữ ký tự tay và kiểm ấn của một thư ký, một viên chức trong phẩm chức Giáo Hội. Hoàn toàn phải tin những bản sao đó, vì nó sao lại Tông thư này, hoặc được trình bày đúng như thế.
Chớ có ai phế bỏ hoặc làm trái với việc chia cắt, thành lập, định chế, ủy thác, nhượng ban, bãi luật và ý muốn này của chúng tôi. Nếu có ai cả dám táo bạo mưu đồ thư thế, thì hãy biết rằng mình sẽ khêu buồn giận cho Thiên Chúa toàn năng và hai Thánh tông đồ Phêrô và Phaolô.
Ban hành tại Rôma, cạnh Đền thờ Thánh Phêrô, năm Chúa Giáng Sinh một nghìn chín trăm ba mươi sáu, ngày mồng chín tháng ba, năm thứ mười lăm triều đại Giáo Hoàng của chúng tôi.
Fr. TH. PIUS, O.P.
Hồng y Boggiani
Chưởng ấn
Hồng y Fumasoni Biondi,
Tổng trưởng Thánh bộ Truyền giáo.
Giuse Wilpert, Niên trưởng đoàn Tổng thư ký tông tòa,
Vinhsơn BianchiCagliesi, Tổng thư ký tông tòa.
chỗ + niêm ấn
Tông thư trên đã được dịch toàn văn từ bản Latinh, trong Acta Apostolicae Sedis, bộ XXVIII, năm 1936, trang 392 và 393.
4. Địa giới Giáo phận Thái Bình
Phía Bắc là Tổng giáo phận Hà Nội và Giáo phận Bắc Ninh. Phía Đông Bắc giáp ranh với Giáo phận Hải Phòng (phần thuộc tỉnh Hưng Yên giáp tỉnh Hải Dương), có con sông Hóa (Bắc Hà) là địa giới thiên nhiên giữa Hải Phòng và Thái Bình. Phía Tây Nam dựa vào sông Hồng, phần trên là ranh giới với Tổng giáo phận Hà Nội (tỉnh Hà Tây và tỉnh Hà Nam), phần dưới từ sông Nam Định xuống hạ lưu giáp ranh với Giáo phận Bùi Chu (tỉnh Nam Định). Phía Đông là vịnh Bắc Bộ, từ cửa sông Thái Bình đến cửa sông Ba Lạt.
Ngày thành lập, Giáo phận gồm hầu hết tỉnh Hưng Yên với 8 phủ huyện, diện tích 712 Km2 và toàn tỉnh Thái Bình gồm 12 phủ huyện, rộng 1508,7 cây số vuông. Như vậy, diện tích toàn Giáo phận là 2220,7 Km2, bắt đầu từ cánh đồng An Vỹ, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên trải dài theo hướng Đông - Đông Nam ra vịnh Bắc Bộ, chấm dứt ở bờ biển Đồng Châu, xã Đồng Châu, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Toàn Giáo phận nằm bên tả ngạn sông Hồng, từ đây có nhiều sông ngòi len lỏi đan chằng chịt trên khắp phần đất Giáo phận. Sông Luộc là nhánh lớn nhất làm ranh giới thiên nhiên về hành chánh giữa tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình. Vì nằm trên miền châu thổ sông Hồng, nên Giáo phận Thái Bình không có đồi núi, rừng cây. Hệ thống sông ngòi vừa tiện lợi giao thông, vừa chuyên chở phù sa bồi đắp thêm cho ruộng vườn phì nhiêu khiến hoa mầu, lúa mạ tốt tươi hơn những nơi khác.
Với vị trí địa thế như vậy, trên phần đất Giáo phận Thái Bình ngày mới thành lập, là nơi sinh sống của đông đảo dân cư. Vùng đất Giáo phận toàn là đồng bằng, nên dân cư không có một người dân tộc thiểu số nào, mà hoàn toàn là người kinh. Theo thống kê năm 2009, tỉnh Hưng Yên 1.128.000 người, trong số có gần 16.000 người Công Giáo. Tỉnh Thái Bình ước khoảng 1.870.000, có khoảng 118.000 tín hữu.
II. GIÁO PHẬN THÁI BÌNH TỪ NĂM 1936-1954
Giáo phận Thái Bình đã được thành lập, nhưng chưa có Giám mục cai quản. Ngày 17-05-1936, linh mục thừa sai Gioan Casado Thuận lúc ấy gần 50 tuổi, đã giữ chức vụ quản lý Giáo phận Trung từ năm 1926 và đang kiêm nhiệm chức vụ cha quản hạt Khoái Đồng, Nam Định, được đặt làm cha bề trên cai quản Giáo phận mới Thái Bình. Một tháng sau, ngày 15-06-1936, cha Casado Thuận được thăng chức Giám mục hiệu tòa Barata, làm Giám mục tông tòa đầu tiên Giáo phận Thái Bình. Lễ tấn phong Giám mục được tổ chức long trọng tại nhà thờ chính tòa Thái Bình, ngày 02-08-1936, chủ phong là Đức cha Gómez Lễ (Francois Gomez de Santago, O.P.), Giám mục thừa sai ngoại quốc cuối cùng Giáo phận Hải Phòng, là bạn cùng lớp với Đức cha Thuận.
1. Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Gioan Casado Thuận (1936-1941)
Sau khi được tấn phong Giám mục ngày 02-08-1936, ngài bắt tay ngay vào việc xây dựng cơ sở cho Giáo phận vì Giáo phận chưa có Toà giám mục, chưa có chủng viện, chưa có các cơ sở cần thiết. Đức cha là một nhà truyền giáo nhiệt thành, là một nhà xây dựng tài ba nhiều kinh nghiệm, vì thế chỉ sau một năm, vào tháng 9 năm 1937, ngài đã khánh thành cơ sở đầu tiên cho Giáo phận, đó là Tiểu Chủng Viện Mỹ Đức. Tiểu chủng viện một tòa nhà ba tầng cao 14 mét, rộng 13 mét, dài 90 mét, nằm trên tả ngạn sông Trà Lý, thuộc xã Cát Đàm, làm nơi đào luyện hằng năm lên đến 140 tiểu chủng sinh.
Đức cha cũng để ý đến việc bác ái, cứu rỗi các trẻ con lương dân bị cha mẹ bỏ rơi, nên đã xây dựng một nhà Dục Anh cấp Giáo phận, tại Giáo xứ An Lập, trao cho các chị em “nhà phước”[1] chuộc trẻ về chăm sóc.
Ngài cũng xây dựng Toà giám mục, một tòa nhà ba tầng ngay cạnh nhà thờ Chính tòa, trên một vị trí nhìn bao quát cả thị xã Thái Bình. Đồng thời, ngài cũng cho tu sửa nhà thờ Chính tòa, thiết lập cung thánh cao hơn, rộng ra hai bên như cánh Thánh Giá, khiến nhà thờ chính tòa tăng thêm sức chứa và các nghi lễ được cử hành một cách trang trọng hơn, tín hữu tham dự thấy được rõ ràng, sốt sắng hơn.
Trên phần đất Giáo phận bên tỉnh Hưng Yên, Đức cha cho xây cất một trường thầy giảng, tòa nhà kiến trúc theo lối Tây phương với ba tầng lầu, ngay tại tỉnh lị, làm nơi đào tạo các nam tu sĩ, những trợ tác đắc lực cho các cha xứ nơi các xứ đạo trên toàn Giáo phận.
Những cơ sở này, Đức cha đã hoàn thành trong một thời gian ngắn kỷ lục, nội trong có ba năm, ngài đã xây dựng cơ sở vật chất hầu như đầy đủ cho Giáo phận. Ngoài ra, Đức cha còn khuyến khích tu sửa, xây dựng nhiều thánh đường, các nhà xứ, nhà phước, trường học nơi các Giáo xứ trên toàn Giáo phận.
Về phương diện tinh thần, Đức cha chú ý đến việc đào tạo nhân tài cho Giáo phận bằng việc gửi đại chủng sinh đi học xa, thành lập nhiều hội đoàn Công giáo tiến hành trên khắp Giáo phận, ngài cũng thành lập một số Giáo xứ mới. Số tín hữu tăng nhanh, trung bình mỗi năm có thêm khoảng ba ngàn giáo hữu mới. Số linh mục mỗi năm cũng tăng thêm từ 3 đến 5 vị. Tu sĩ nam nữ cũng ngày càng thêm đông số.
Có thể nói, Giáo phận Thái Bình phát triển mạnh ngay từ ngày thành lập là nhờ sự lãnh đạo của vị chủ chăn tài đức, khôn ngoan, nhiệt thành và hoạt bát: Đức cha Gioan Thuận, một vị thừa sai Dòng Thánh Đaminh, sinh ngày 27-12-1886, quê làng Fuentece, tỉnh Burgos, Tây Ban Nha.
Thế chiến thứ II bùng nổ từ ngày mồng 03-09-1939, đã trở nên ngày thêm khốc liệt. Đức cha Gioan không có phương tiện trở về Giáo phận, ngài phải lưu lại thủ đô Madrid để chờ dịp. Một cơn bạo bệnh bất ngờ đã đưa Đức cha Gioan Casado về nước Chúa, ngày 22-01-1941, bỏ lại Giáo phận Thái Bình thân yêu mà ngài mới kiến tạo được những cơ sở cần thiết vững chắc cả về tinh thần cũng như vật chất.
Là một vị chủ chăn nhân từ, phúc hậu, hăng hái trong việc truyền giáo, cha chính Thái đã tận tâm điều hành mọi sinh hoạt trong Giáo phận luôn xuôi chảy trong thời gian hơn một năm giữ chức vụ nhiếp chính. Sau khi Giáo phận có Giám mục mới, cha Sedano Thái vẫn được vị chủ chăn mới là Đức cha Santos Urberna Ninh tín nhiệm trong chức vụ Tổng đại diện Giáo phận. Đầu mùa Chay năm 1946, cha bị Việt Minh đến đòi tịch thu tiền mà họ cho là cha đang giữ, cha không có tiền nộp, nên bị bắt đem đi, và ngay đêm hôm đó, họ đã bắn chết cha và đem xác buông tại cống Vực (gần An Lập). Nhà dòng Đaminh tại Cát Đàm đã thuê thuyền đánh cá tìm được thi thể cha và đem về an táng tại cạnh nhà thờ Cát Đàm.
2. Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Santos Ubierna Ninh (1942-1954)  
   Ngày 24-02-1942, linh mục thừa sai Tây Ban Nha Santos Ubierna, tên Việt là cha giáo Ninh, giáo sư kiêm phó giám đốc và quản lý Giáo hoàng chủng viện Thánh Anberto, Nam Định, được Tòa Thánh ban Sắc phong Giám mục kế vị Đức cha Casado Thuận tại Giáo phận Thái Bình. Đức tân Giám mục sinh ngày 01-11-1907 tại làng Huermeces, tỉnh Burgensis, nước Tây Ban Nha. Gia nhập dòng Đaminh ngày 29-06-1923. Thụ phong linh mục ngày 20-12-1930. Năm 1932, sang truyền giáo tại Việt Nam. Từ năm 1933-1942, được bổ nhiệm làm giáo sư chủng viện Thánh Alberto Nam Định. Đức cha được tấn phong Giám mục hiệu toà Lamdia ngày 29-09-1942 tại Thái Bình, với khẩu hiệu: “Đổ máu hoà dâng với hy sinh lễ tế – Immolor supra sacrificium” (x. Pl 2,17).
Trong suốt thời gian Đức cha Ubeirna Ninh lãnh đạo Giáo phận, đất nước luôn ở trong tình trạng chiến tranh. Cùng chung hoàn cảnh đất nước, Giáo phận Thái Bình cũng phải lâm cảnh đau thương kháng chiến chống Nhật, chống đói, chống Pháp. Vì thế Đức cha chỉ có thể duy trì các cơ sở và giữ vững tinh thần cho các tổ chức công giáo tiến hành đã có sẵn trong Giáo phận. Với một lập trường vững chãi về chính trị, với tinh thần kiên trung về tôn giáo, Đức cha đã củng cố tinh thần tông đồ của hàng giáo sĩ, bồi dưỡng đức tin nơi các giáo hữu. Ngài đã vững tay lèo lái con thuyền Giáo phận vượt qua những khó khăn chiến tranh, vững vàng ngăn chặn tà thuyết vô thần xâm nhập vào đời sống đức tin của các tín hữu trong Giáo phận. Đức cha Ninh có một đức tính cương trực, can đảm chống lại bất cứ áp lực từ đâu đến làm phương hại đến đạo thánh. Ngài tuyên bố sẵn sàng chết chứ không khuất phục áp lực làm điều trái với luật Chúa.
Về văn hóa, ngài đã lập Nhà In Đaminh Thái Bình để in ấn những tài liệu, sách báo công giáo cho Giáo phận.
Tuy ngài lãnh đạo Giáo phận trong thời khó khăn như vậy, thành quả của ngài cũng tiến triển hơn khi ngài nhận Giáo phận. Đầu năm 1954, Giáo phận đã được thống kê như sau: 21 linh mục Dòng Đaminh, 64 linh mục Giáo phận, 35 đại chủng sinh, 160 ngàn giáo dân, tổng số dân cư trên phần đất Giáo phận là 1,5 triệu (chiếm tỉ lệ 10,75%). Ngài còn lập thêm nhiều Giáo xứ, nâng tổng số Giáo xứ trong Giáo phận lên đến 63 Giáo xứ.
Sau hiệp định Genève, Đức cha bị cưỡng bức di cư vào miền Nam. Thời gian này, ngài đã về Tây Ban Nha thăm lại cố hương. Sau khi trở lại Sài gòn, Đức cha luôn thao thức về lại Giáo phận trước ngày 29 hoặc 30 tháng 5 năm 1955, là thời hạn chót cho việc tập kết, theo hiệp định đình chiến Genève. Nhưng Chúa đã đem Đức cha về, ngày 15-04-1955, khi ngài mới có 48 tuổi, chăn dắt đoàn chiên Chúa tại Giáo phận Thái Bình được 13 năm.
III. GIÁO PHẬN THÁI BÌNH TỪ NĂM 1954 ĐẾN NAY
Vì lý do chiến tranh, hơn một nửa giáo dân di cư, hầu hết các linh mục, tu sĩ cũng phải lìa Giáo phận (1954). Trong khi đó, linh mục Đaminh Đinh Đức Trụ, nguyên là linh hướng Chủng Viện Mỹ Đức, đang coi xứ Nguyệt Lãng, tình nguyện ở lại. Cha đã được Đức cha Ninh đặt vào chức bề trên tổng quản Giáo phận, từ ngày 30-06-1954.
Dưới quyền cha tổng quản Đaminh Đinh Đức Trụ, Giáo phận chỉ còn 13 linh mục, phần lớn đã có tuổi, 23 chủng sinh, 26 dì phước dòng ba Đaminh, và khoảng 80.000 giáo dân. Hầu hết các Giáo xứ không còn linh mục, hơn phân nửa nhà thờ trong Giáo phận phải đóng cửa hoặc bị trưng dụng làm kho chứa đồ.
Sau khi Đức cha Ninh qua đời tại Sài Gòn, cha tổng quản được đặt làm Linh mục giám quản coi sóc Giáo phận. Bằng một niềm tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa, người mục tử khôn ngoan dũng cảm ấy đã lãnh đạo Giáo phận vượt qua những thời khắc khó khăn nhất. Để củng cố lòng tin của tín hữu, cha giám quản đã cho chăng một biểu ngữ ngang trước Nhà Thờ Chính Tòa: “Các con đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết hại được linh hồn. Nhưng phải sợ Đấng có thể tiêu diệt cả linh hồn và thân xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28). Ngài đã bất chấp mọi áp lực, đi kinh lý khắp Giáo phận, đã cắt họ Ngô Xá và họ Đào Xá thuộc xứ Sài Quất, nâng lên thành Giáo xứ Ngô Xá, vào năm 1958.
Nỗi băn khoăn lo lắng nhất của cha giám quản là thiếu linh mục. Cha đã làm mọi cách để chủng viện được mở lại. Nhưng cánh cửa chủng viện cũng chỉ được đôi lần hé mở, rồi lại khép kín. Thời gian này, các lớp đào tạo hàm thụ, mặc dầu rất chật vật lần lượt được mở. Nói đến chủng viện, chúng tôi cũng phải nhắc đến các cơ sở của Giáo phận, Chủng Viện Mỹ Đức, trường Thầy giảng Hưng Yên, cơ sở Dòng tại Cát Đàm cũng đã là những cuộc tranh đấu cam go, giáo dân cũng tốn nhiều mồ hôi nước mắt và cả máu mới giữ được chủng viện, còn hai cơ sở kia cũng phải “cho mượn” để làm trường học.


 

1. Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Đaminh Maria Đinh Đức Trụ (1954-1982)
Sau gần 6 năm làm giám quản Giáo phận, ngày mồng 05-03-1960, Tòa Thánh ban sắc phong cha Đaminh Đinh Đức Trụ lên chức Giám mục hiệu tòa Catapas, làm Giám mục tông tòa Giáo phận Thái Bình. Đức cha Đaminh Maria Đinh Đức Trụ chào đời ngày 15-10-1909 tại Phú Nhai. Năm 16 tuổi ngài theo học Latinh tại tiểu Chủng Viện Ninh Cường. Mùa thu năm 1931 ngài theo học khóa Triết tại tại Đại Chủng Viện thánh Alberto Nam Định. Mùa hè năm 1933 ngài đi thực tập tại hai nhà giáo Đông Chú và Đồng Lạc thuộc xứ Đồng Quan. Mùa thu 1934 cha trở lại Đại Chủng Viện tiếp tục học Thần Học bốn năm, mãn khóa Thần Học, ngài thụ phong linh mục ngày 23/05/1938.
Tòa Thánh hiểu rõ hoàn cảnh của Giáo Hội Việt Nam trong thời kỳ khó khăn. Kinh nghiệm của Đức cha Vinh, thời Tự Đức, đã phải dùng mũ giấy, gậy tre trong lễ tấn phong Giám mục. Vì thế Tòa Thánh đã gửi qua bưu điện: Thánh Giá, mũ và gậy Giám mục cho ngài. Ôm bưu kiện vào phòng, ngài giơ cao cây gậy lên, nói: “Chỉ ai sẵn sàng thí mạng sống cho đoàn chiên của Giáo Hội mới xứng đáng cầm cây gậy này”.
Như Đức cha Thánh Liêm (Hermosilla), trong thời cấm đạo phải tàng hình tiểu hầu theo ngựa một phó tổng, đến Vĩnh Trị để được tấn phong (25-04-1841), cha Trụ cũng cải trang làm một bác xích lô đưa khách đến Toà giám mục Hà Nội để được Đức cha Giuse Trịnh Như Khuê âm thầm tấn phong Giám mục, vào Lễ Truyền Tin, 25-03-1960. Ý thức được nhiệm vụ của một chủ chăn giữa khó khăn chồng chất, Giám mục phải là một chiến sĩ xung kích, Đức cha Trụ đã chọn khẩu hiệu Giám mục là “Lính tốt của Chúa Kitô – Bonus Menes Christi”.
Ngày 24-11-1960, Tòa Thánh thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, Đức cha Đinh Đức Trụ trở thành Giám mục chính tòa đầu tiên của Giáo phận Thái Bình.
Khi còn làm Giám quản giáo phận, một trong những ưu tư hàng của của ngài là làm thế nào để bổ sung thêm nhân sự cho Giáo phận còn thiếu nhiều do hậu quả cuộc di cư 1954 để lại. Do vậy, đầu năm 1956, được sự đồng ý của chính quyền, cha Đaminh Đinh Đức Trụ khai giảng trường Mỹ Đức, tiếp nhận tất cả các con em trong Giáo phận về học. Niên khoá đầu tiên 1956-1957 con số học sinh đã lên tới 350. trước đó, năm 1955, ngài đã làm một cuộc kinh lý trên toàn Giáo phận để biết thêm về tình hình đời sống đức tin giáo dân trong Giáo phận. Năm 1958, ngài đã cắt họ Ngô Xá thuộc xứ Vĩnh Phúc và Đào Xá thuộc xứ Sài Quất để thành lập xứ Ngô Xá.
Từ ngày trở thành Giám mục, Đức cha Trụ đã chuẩn bị để phong chức Linh mục cho các thầy đã theo học hàm thụ từ trước, nên chỉ 5 tháng sau, ngày 16-07-1960 ngài đã âm thầm truyền chức cho bốn thầy. Sau đó ngài vẫn tiếp tục đào tạo và phong thêm nhiều thầy nữa, vì thế số Linh mục Giáo phận Thái Bình đông nhất so với các Giáo phận khác trong Tổng giáo phận Hà Nội, thời bấy giờ.
Sau những năm tháng vững tay chèo lái con thuyền Giáo phận chống chọi với phong ba ghềnh thác, để hướng dẫn Giáo phận một ngày một thăng tiến, nỗi lo lắng cho Giáo phận làm Đức cha, cộng thêm tuổi cao, sức khỏe yếu dần, ngài đã đề nghị vị kế nhiệm và đã có kết quả. Điều này làm Đức cha mãn nguyện.
Đức cha tiên khởi chính tòa Giáo phận Thái Bình đã yên trí khi ngài nằm dưỡng bệnh. Ngày 07-06-1982 ngài đã an nghỉ trong Chúa sau 73 năm trên trần thế, với 44 năm linh mục, trong đó ngài đã phục vụ Giáo phận 28 năm trong đó có 6 năm giám quản tông tòa Giáo phận và 22 năm Giám mục chính tòa Giáo phận. Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ là một chủ chăn:
Đạo đức - Hy sinh trong cuộc sống
Khôn ngoan - sáng suốt trong lãnh đạo
Hiền từ - Bình dân trong giao tế
Hăng say - Quên mình trong phục vụ
Can đảm - Cương quyết trong trách nhiệm
Ngài đã là một chiến sĩ xung kích dũng cảm, một thuyền trưởng đầy nhiệt huyết, “người chèo lái con thuyền Giáo phận với lòng can đảm cương nghị phi thường” (Thư Chung1995 của Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang), vững vàng hướng dẫn con thuyền Giáo phận vượt qua cơn cuồng phong dữ dội của làn sóng thế gian, thời thế.
2. Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Giuse Maria Đinh Bỉnh (1982-1989)
 
Vị Giám mục kế nhiệm Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ là cha Giuse Đinh Bỉnh. Đức cha Giuse Đinh Bỉnh sinh ngày 02-05-1922 tại Phú Nhai, Giáo phận Trung. Học xong tiểu học, ngài gia nhập tiểu chủng viện Ninh Cường (Bùi Chu), rồi Mỹ Đức (Thái Bình). Ngài học Thần học và Lý đoán tại Đại chủng viện thánh Alberto Nam Định. Ngày 16-07-1960, ngày lễ Đức Mẹ núi Camelo, Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ đã truyền chức linh mục cho ngài cùng ba cha khác là cha Vân, cha Uyên và cha Cẩm. Từ năm 1972-1977, ngài là giám đốc Chủng viện Mỹ Đức và kiêm các giáo xứ Sa Cát, Phương Xá v.v. Ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban sắc tuyển chọn vào ngày 30-10-1979.
Đức cha Giuse Đinh Bỉnh được Đức Hồng Y Giuse Trịnh Văn Căn tấn phong Giám mục trong một buổi lễ long trọng, tại nhà thờ chính tòa Thái Bình, ngày 08-12-1979. Nhận thức rõ nhiệm vụ khó khăn của một chủ chăn, vị tân Giám mục đã muốn được Đức Maria dưới chân Thánh Giá phù trợ, khẩu hiệu Giám mục của ngài là “Ecce Mater tua: này là Mẹ con”. Cuộc đời Giám mục của ngài phó thác vào tay Đức Mẹ Đau Thương, để Mẹ dẫn đưa dìu dắt qua chông gai và nước mắt.
Nối tiếp công việc của vị tiền nhiệm, Đức cha Giuse Đinh Bỉnh vẫn ưu tiên trong việc đào tạo Linh mục, luôn lo lắng cho có thợ làm vườn nho Chúa. Đồng thời tận tâm tận lực chăm sóc cho tín hữu Giáo phận, sao cho có được những sinh hoạt tôn giáo dễ dàng, sốt sắng hơn. Là một chủ chăn hiền lành, đơn sơ, lấy đức Ái làm phương châm cuộc sống, nên có người đã gọi ngài bằng biệt danh là Hòa Bình.
Còn đang mải miết lo toan Giáo phận, công việc đang tiến triển theo chiều hướng tốt đẹp, thì vào lúc 4 giờ sáng ngày 14-03-1989, ngài đã an nghỉ trong Chúa, sau cơn nhồi máu cơ tim, hưởng thọ 67 tuổi, 29 năm Linh mục và 11 năm Giám mục, 7 năm Giám mục chính tòa.
Không để Giáo phận Thái Bình trống tòa, Đức Hồng Y Giuse Trịnh Văn Căn, mặc dầu bận rất nhiều công việc của Tổng giáo phận Hà Nội, ngài cũng nhận nhiệm vụ giám quản Giáo phận Thái Bình (14-03-1989 đến 15-05-1990) trong thời gian Tòa Thánh chưa bổ nhiệm Giám mục coi sóc.
Hơi một năm làm giám quản, Đức Hồng Y chú trọng đến đời sống đạo của Giáo phận. Tổ chức những tuần tĩnh tâm cho các linh mục do chính ngài hướng dẫn. Gặp gỡ tâm sự, khích lệ các tín hữu khắp Giáo phận. Khôi phục sinh hoạt và tài trợ cho các hội Dâng Hoa tháng Năm kính Đức Mẹ. Ngài cũng chú ý đến việc bảo trì các nhà thờ trong Giáo phận, khuyến khích giúp đỡ để các họ đạo có thể tu bổ, sửa chữa nơi thờ phượng.
3. Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang (1990-2009)
 
Niềm mong mỏi của giáo dân Giáo phận Thái Bình có một vị chủ chăn mới đã được toại nguyện. Ngày 03-12-1990, Tòa Thánh bổ nhiệm Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Hà Nội, về làm Giám mục chính tòa Giáo phận Thái Bình. Ðức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, sinh ngày 08-01-1932 tại xứ Lại Yên, huyện Hoài Ðức, ngoại thành Hà Nội. Ngài đã theo học tại Tiểu Chủng Viện Hoàng Nguyên, Ðại Chủng Viện Xuân Bích, và hai năm học tại trường Trung học Pháp tốt nghiệp với bằng Tú tài Sinh ngữ, Triết học. Sau khi di cư cùng với toàn bộ Đại chủng viện Xuân Bích vào Vĩnh Long, chỉ có mình ngài là nhận lời kêu mời trở về Hà Nội của Đức cha Giuse Trịnh Như Khuê. Ngày 18-04-1958, tại nhà thờ lớn Hà Nội, ngài lãnh nhận tác vụ linh mục. Ngày 24-03-1981, ngài được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm làm Giám mục hiệu toà Sarda, phụ tá Ðức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn. Lễ tấn phong Giám mục của ngài được long trọng cử hành tại Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội vào ngày 22-04-1981 với khẩu hiệu: "Chân Lý Trong Tình Thương". Ngày 01-05-1981, ngài được cử giữ chức Giám đốc Ðại chủng viện Hà Nội. Từ năm 1983-1989, ngài được bầu làm Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam trong hai nhiệm kỳ liên tiếp. Ngày 05-02-1991 ngài về nhận Giáo phận Thái Bình, khi vào phần đất Giáo phận, Đức cha đã “quì mảnh hôn đất thân yêu” mà ngài thề nguyền kết duyên, trung thành cho đến chết.
Như các vị tiền nhiệm, Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang cũng ưu tiên lo lắng đến việc đào tạo linh mục. Việc đầu tiên là lo cho 8 linh mục, chính quyền không cho thi hành chức vụ, được làm mục vụ. Vì tương lai Giáo phận, Đức cha cũng gửi Linh mục của Giáo phận ra nước ngoài du học. Song song với công việc tinh thần, về cơ sở vật chất, ngài lo tu sửa Nhà Thờ Chính Tòa, Toà giám mục, cùng với việc nâng cao đời sống dân Chúa trong Giáo phận, bằng việc cấp vốn cho dân chúng mua phân bón, cứu cho những cánh đồng lúa úa vàng tàn lụi.
Nhận thấy những mốc kỷ niệm quan trọng của Giáo phận chưa bao giờ được tổ chức, như các lễ Ngân Khánh, Kim Khánh Giáo phận, Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang đã xin Tòa Thánh cho tổ chức Năm Thánh Giáo phận Thái Bình vào năm 1996, để kỷ niệm 60 năm Giáo phận và 90 năm Nhà Thờ Chính Tòa Thái Bình. Đây là dịp tín hữu Thái Bình biểu lộ sức sống mãnh liệt niềm Tin của mình, không những trong tâm hồn, mà còn thể hiện ra bên ngoài bằng những cuộc hành hương, những cuộc rước và tôn vinh Thánh Giá, nơi các Giáo xứ, mà chính Đức cha Giáo phận chủ tế. Đặc biệt Toà Thánh ban ơn ba Năm Thánh liên tiếp nhau (1996, 1997, 1998) cho Giáo phận Thái Bình để cảm tạ đội ơn Thiên Chúa. Trong những năm này, Đức Giám mục Giáo phận đã nhấn mạnh việc ăn năn sám hối và giao hòa giữa các thành phần trong Giáo Hội và xã hội, cũng như cảm tạ Thiên Chúa về những hồng ân cao quí đã gây được nhiều ảnh hưởng tốt đẹp. Và từ đó có nhiều Năm Thánh tiếp diễn sau, như năm Hồng Đào, để giúp giáo dân sống trưởng thành trong đức tin hơn. Đức cha Phanxicô phục vụ Giáo phận không biết mệt mỏi, dù đã đến tuổi cao, sức khoẻ có hạn. Do vậy, sau 19 năm phục vụ Giáo phận, ngài đã được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI chấp thuận cho về nghỉ hưu ngày 25-07-2009.
4. Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Phêrô Maria Nguyễn Văn Đệ SDB (2009-)
            Sau 19 năm phục vụ Giáo phận, Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang đã được Toà Thánh đồng ý cho về nghỉ hưu. Ngày 25-07-2009, Toà Thánh đã chính thức bổ nhiệm Đức cha Phêrô Maria Nguyễn Văn Đệ SDB, Giám mục phụ tá Giáo phận Bùi Chu về làm Giám mục chính Toà Giáo phận Thái Bình. Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Ðệ sinh ngày 15/01/1946 tại Trí Bưu, Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị thuộc tổng Giáo phận Huế. Năm 1958, ngài gia nhập Dòng Salesian Don Bosco và khấn Dòng vào ngày 15-08-1965. Sau khi học xong trung học, ngài được gửi đi học triết học tại Hồng Kông từ năm 1965-1968. Năm 1968, về Việt Nam, ngài theo học Thần Học tại Giáo Hoàng học viện Đà Lạt từ năm 1970-1974. Ngài được thụ phong linh mục vào ngày 17/12/1973. Sau khi chịu chức, ngài đã lần lượt giữ chức Bề trên Giám Tỉnh Dòng Don Bosco Salesian từ năm 1992-1997, rồi làm giám đốc học viện thần học Don Bosco Salesian từ năm 1997-2000. Sau đó, ngài ra Hà Nội để làm giáo sư tại Đại chủng viện thánh Giuse Hà Nội từ năm 2000-2005. Ngày 29-11-2005, Toà Thánh chính thức ban sắc phong ngài làm Giám mục phụ tá Giáo phận Bùi Chu, với hiệu toà Ammaedara và thánh lế tấn phong Giám mục được cử hành vào ngày 18-01-2006 tại nhà thờ chính toà Bùi Chu với khẩu hiệu : “Xin Tôi Các Linh Hồn - Da Mihi Animas”.
 Ngày 01-09-2009, ngài chính thức về nhận Giáo phận, và kể từ đây, Giáo phận Thái Bình là quê hương thứ hai của ngài, là gia đình mà trong đó ngài được mời gọi đến để phục vụ trong tư cách là người cha chung của toàn thể Giáo phận. Trong bài giảng trong nhận Giáo phận, Đức cha Phêrô đã nói : “Xin anh chị em hãy quảng đại đón nhận tôi như một thành viên bé nhỏ vào đại gia đình giáo phận, và xin cầu nguyện nhiều cho tôi, để tôi luôn cố gắng bắt chước sống và thực hành như lý tưởng sống của thánh Phao-lô: từ nay không còn là tôi sống nữa là giáo phận Thái Bình, là anh chị em giáo dân sống trong tôi. Từ nay sự sống tôi, trái tim tôi, hơi thở tôi, vui buồn sướng khổ, thành công hay thất bại của đời tôi, xin được hoàn toàn gắn liền với cuộc sống của anh chị em, với cộng đoàn dân Chúa tại giáo phận Thái Bình”.
Sau khi nhận Giáo phận, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ đã lần lượt đi thăm các giáo xứ trong Giáo phận. Ngài đã cùng với linh mục đoàn xây dựng bản “Chỉ Nam” cho Giáo phận trong hiện tại và hướng đến tương lai. Từ khi có bản “Chỉ Nam”, Đức cha đã kiện toàn lại cơ cấu tổ chức trong Giáo phận. Ngài còn không ngừng thể hiện vai trò mục tử là dạy dỗ các đoàn thể, giới trong Giáo phận trong kế hoạch cả năm cũng như mỗi khi có dịp. Với hơn một năm về coi sóc Giáo phận, ngài không chỉ quan tâm đến việc xây dựng, kiến thiết cơ sở vật chất mới cho Giáo phận, mà còn kiến thiết, xây dựng con người, đó là tìm nguồn tài chính để tài trợ học bổng cho các em nghèo, chịu khó, học giỏi.
IV. GIÁO PHẬN THÁI BÌNH HIỆN NAY
1. Số linh mục, tu sĩ, chủng sinh, tu sinh, dự tu và giáo dân trong Giáo phận
+ Linh mục: 75 (66 Linh mục triều và 9 Linh mục dòng)
·        61 linh mục đang coi sóc các giáo xứ, giáo họ
·        6 linh mục đang làm việc tại Toà giám mục
·        2 linh mục đang phục vụ công tác đào tạo và quản lý tại Chủng viện Mỹ Đức
·        4 linh mục đang du học tại (Pháp: 2 linh mục; Ý: 1 linh mục và Philipines: 1 linh mục)
·        2 linh mục đang nghỉ hưu
+ Tu sĩ: 171 :
·         Dòng nữ Đaminh Thái Bình : 117
·         Dòng Mến Thánh giá Tân Lập : 20
·         Dòng thánh Phaolô thành Chartres : 7
·         Dòng Mân Côi Trung Linh : 2
·         Dòng Mến Thánh giá Tân Việt : 4
·         Tu đoàn Thừa sai thánh Mẫu Chúa Cứu Thế: 7
·         Dòng Đồng Công : 4
+ Chủng sinh: 72, trong đó chủng sinh đang học tại Đại chủng viện Hà Nội : 43; đang học tại chủng viện Mỹ Đức : 29
+ Tu sinh : 46
+ Dự tu : 127
+ Tìm hiểu ơn gọi : 47
+ Giáo dân: 134.000 người
+ Lương dân: 3.024.000
+ Giáo xứ: 102
+ Giáo họ : 443
2. Tổ Chức Giáo phận
a. Toà giám mục Thái Bình
+ Đức cha Phêrô Maria Nguyễn Văn Đệ SDB, Giám mục chính toà
+ Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang (nghỉ hưu)
+ Đức Ông Giêrônimô Nguyễn Phúc Hạnh, Tổng đại diện Giáo phận.
+ Hội Đồng Tư Vấn = 11 người, cha Giuse Trần Xuân Chiêu làm chủ tịch.
+ Hội Đồng Linh Mục = 14 người, Đức ông Giêrônimô Nguyễn Đức Hạnh làm chủ tịch.
+ Hội Đồng Kinh Tế và Quản Trị = 9 người, cha Phanxicô Xaviê Ngô Văn Toan làm chủ tịch.
+ Hội Đồng Mục Vụ = 43 người, cha Đaminh Đặng Văn Cầu làm chủ tịch.
+ Các Trưởng khối ngành :
·         Khối Ơn Gọi : cha giám đốc chủng viện Mỹ Đức làm trưởng khối
·         Khối Giáo Lý : cha Đaminh Đặc Văn Cầu làm trưởng khối
·         Khối Phụng Tự : cha Phêrô Nguyễn Đình Tân làm trưởng khối
·         Khối Đoàn Thể : cha Đaminh Nguyễn Trung Lương làm trưởng khối
·         Khối Phục Vụ : cha Thomas Đoàn Xuân Thoả làm trưởng khối
+ Về mục vụ truyền thông:
Giáo phận Thái Bình hiện nay có trang Web: giaophanthaibinh.org


 

b. Tổ chức Giáo Hạt, Giáo xứ 
   Giáo phận Thái Bình gồm hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên, về cơ cấu tổ chức Giáo hạt được chia ra làm sáu Giáo hạt như sau:
- Hạt Kiến Xương: gồm huyện Kiến Xương và một phần huyện Vũ Thư.
- Hạt Đông Hưng: gồm hai huyện Đông Hưng và Hưng Hà.
- Hạt Thành Phố : gồm thành phố Thái Bình và một phần huyện Vũ Thư
- Hạt Thái Thụy: gồm huyện Thái Thụy, một phần huyện Quỳnh Phụ và Đông Hưng
- Hạt Tiền Hải: huyện Tiền Hải.
- Hạt Hưng Yên gồm toàn bộ 21 xứ trong 6 huyện và TP Hưng Yên.
c. Dòng Tu và các Tu đoàn Tông đồ
Giáo phận Thái Bình có 12 Dòng tu và Tu đoàn tông đồ đang hoạt động:
+ Các Dòng Giáo Hoàng:
 1. Dòng Đaminh Việt Nam:Có một cơ sở tại Giáo xứ Cát Đàm.
2. Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam:có cơ sở tại họ Bổng Điền thuộc xứ Nghĩa Chính. Hoạt động: loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, bị bỏ rơi; giảng tuần Đại Phúc.
3. Dòng Don Bosco:có hai cơ sở tại Họ Dũng Kim thuộc Lê Xá và họ Hoàng Độc thuộc xứ Ngọc Đồng. Hoạt động giới trẻ, tạo công ăn việc làm bằng các trung tâm học nghề, mục vụ Giáo xứ.
4. Dòng Thánh Phaolô thành Chartres:Dòng thánh Phaolô thành Chartres thuộc tỉnh dòng Đà Nẵng, có ba cộng đoàn phục vụ ở Giáo phận Thái Bình: (Võng Phan (cơ sở chính); giáo xứ Chính Tòa; Giáo xứ Trà Vi). Hoạt động: Nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của anh em lương giáo trong vùng bằng cách giáo dục (giáo lý, đàn nhạc, vi tính, nhà trẻ, học bổng…), chăm sóc bệnh nhân và người bất hạnh. Sẵn sàng theo mọi hình thức hoạt động mà các nhiệm vụ đòi hỏi (nước lọc tinh khiết, hoạt động từ thiện, thăm viếng…)
+ Các Dòng Giáo phận :
1. Dòng nữ Đaminh Thái Bình: Cơ sở: có 11 cơ sở đó là Cát Đàm, Trung Đồng, Ngọc Đồng, Thân Thư­ợng, An Lập, Cao Mộc, Bồ Ngọc, Phương Xá, Viên Tiêu thuộc xứ Tiên Chu, Sa Cát, Thái Bình và Phục Lễ. Hoạt động: Tại cộng đoàn: quan tâm đến nhóm trẻ mà các gia đình lương giáo đã tin tưởng nhờ trông coi.  Tại Giáo xứ: chị em cộng tác với các cha xứ đảm trách các lớp Giáo lý căn bản, giáo lý hôn nhân, giáo lý dụ tòng. Các hoạt động khác: dạy may miễn phí; trung gian cấp học bổng; bệnh xá có miễn giảm; thăm viếng, giúp đỡ những ng­ười già, đau yếu, neo đơn; giúp các bệnh nhân ở trại Phong Văn Môn.
2. Dòng Mến Thánh Giá Tân Lập:có 8 cơ sở đang hiện diện tại các Giáo xứ và họ đạo:xứCao Xá, xứ Thuần Túy, xứ Cao Mại, xứ Bác Trạch, xứ Xuân Hòa, xứ Tân Châu, họ Thượng Cầm thuộc xứ Nhà Thờ Chính Toà và họ Cao Bình thuộc xứ Cao Mại.
3. Dòng Mân Côi Trung Linh: có cơ sở tại họ Đông Thọ (Vân Môn) thuộc xứ Thái Sa. Hoạt động: phục vụ tại bệnh viện phong gia liễu Vân Môn; cộng tác với cha xứ đảm trách các lớp Giáo lý căn bản, giáo lý hôn nhân, giáo lý dụ tòng
4. Dòng Thánh Tâm Huế: có hai cơ sở tại xứ Tiên Chu và họ Kính Danh thuộc Giáo xứ Đồng Quan. Hoạt động: mục vụ Giáo xứ.
5. Dòng Thừa Sai Đức Tin: Có ba cơ sở tại Họ Thủ Chính thuộc xứ Trung Đồng, xứ Thụy Lôi và xứ An Vĩ. Hoạt động: mục vụ Giáo xứ.
6. Dòng Đồng Công: có một cơ sở tại họ Đống Cao thuộc xứ Nghĩa Chính.
+ Các Tu Đoàn Tông Đồ
1. Tu Đoàn Giáo Sĩ Nhà Chúa: cơ sở tại xứ Bồ Ngọc. Hoạt động: Giúp các Linh mục xứ, làm việc tông đồ nơi các Giáo xứ. Thánh hóa các gia đình. Khiêm tốn và phục vụ theo gương Đức Kitô và các thánh tử đạo.
2.Tu Đoàn Thừa Sai Thánh Mẫu Chúa Cứu Thế (Nam và Nữ): Nam tại họ Tân Bình thuộc xứ Cổ Việt; Nữ tại xứ Đông Thành. Hoạt động: thăm hỏi, động viên giúp đỡ, phục vụ những người già neo đơn, nghèo khó, tàn tật; mục vụ tại các Giáo xứ.
2. Cơ sở vật chất
a. Toà Giám Mục
   Toà giám mục Thái Bình tọa lạc ở khu đất hiện nay xưa kia thuộc về xứ Thái Bình. Theo tài liệu còn để lại, năm 1908 Đức cha Munagorri Trung ban sắc thành lập giáo xứ Thái Bình, cha Tràng An là cha xứ đầu tiên đã mua thêm hai mươi mẫu ruộng để mở rộng thêm khu vực giáo xứ Thái Bình.
   Ngày 9-03-1936, Giáo phận Thái Bình chính thức được thành lập, một phần đất của giáo xứ Thái Bình được sử dụng làm Tòa giám mục của Giáo phận mới. Sau khi được tấn phong Giám mục ngày 02-08-1936, Đức cha Casado Thuận bắt tay ngay vào việc kiến thiết Giáo phận Thái Bình trong đó công việc ưu tiên hàng đầu của ngài là kiến thiết Toà giám mục và chủng viện Mỹ Đức.
   Đức cha Casado Thuận là một nhà truyền giáo nhiệt thành, là một nhà xây dựng tài ba nhiều kinh nghiệm. Ngài đã từng giữ chức quản lý Giáo phận Trung, nên khi về làm Giám mục Giáo phận Thái Bình, ngài đã mời thầy già Yến, người đã từng cộng tác với Đức cha xây dựng Chủng Viện Alberto Nam Định về xây dựng Toà giám mục của Giáo phận mới và các công trình khác.
   Công trình kiến thiết Toà giám mục được tiến hành sau khi Đức cha Casado được tấn phong ngày 02-08-1936. Dưới sự lãnh đạo của Đức tân Giám mục, đôi bàn tay tài hoa, khối óc thông minh cộng với kinh nghiệm phong phú về xây dựng cơ sở vật chất của thầy già Yến, tinh thần hăng say góp công góp của đông đảo giáo dân Giáo phận mới, chỉ trong vòng hơn một năm từ tháng 9-1936 đến tháng 19-03-1938 đã khánh thành Toà giám mục, một tòa nhà ba tầng: chiều dài 40m, chiều rộng 12m và chiều cao 13m nguy nga nhìn bao quát toàn bộ thị xã Thái Bình trước kia và Thành phố Thái Bình hiện nay. Cùng song song với việc xây dựng tòa nhà ba tầng, Đức cha Gioan Casado Thuận cho xây dựng tượng đài Chúa Giêsu Vua trước Toà giám mục, cùng khánh thành với tòa nhà ba tầng.
            Sau khi về nhận Giáo phận Thái Bình (05-02-1991), Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang đã cho tu bổ và xây dựng thêm các công trình trong khuôn viên Toà giám mục như: Linh đài Đức Mẹ La Vang (2007), nhà nguyện và phòng hội Toà giám mục (2000), Trung tâm Mục Vụ của Giáo phận (2004).
b. Nhà Thờ Chính Toà
Năm 1906, khi Thái Bình còn nằm trong Giáo phận Trung, cố Tây Ban Nha Andres Kiên đã lãnh trách nhiệm chỉ đạo việc xây cất ngôi đường với chiều dài hạn chế. Mãi đến năm 1937 khi Giáo phận vừa thoát thai, thánh đường thị xã trở thành nhà thờ chính tòa Giáo phận, Đức Giám mục tiên khởi Gioan Casado Thuận mới truyền cho cố Tây Ban Nha Rengen Lễ là cha sở xứ Thái Bình lúc ấy đốc công xây cất thêm phần nhà thờ từ cánh thánh giá trở lên, đồng thời lập bàn thờ sơn son thếp vàng, làm cho ngôi thánh đường trở nên đồ sộ, rộng lớn, bề thế, khang trang hơn nhiều, xứng tầm vóc của ngôi thánh đường mẹ, thánh đường của Đức Giám mục, trung tâm hội tụ Phụng vụ của toàn Giáo phận.
Trong thời kỳ chiến tranh 1954-1975, nhà thờ chính tòa đã hai lần bị trúng bom vào ngày 19-08 và 12-10-1967 gây hư hại nặng cho nhà thờ. Trong hoàn cảnh chiến tranh và nghèo khó Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ cùng với hàng giáo sĩ và giáo dân từng bước sửa chữa tạm thời. Đức cha Giuse Đinh Bỉnh tiếp tục công việc sửa chữa, và cuối cùng, năm 1995, Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, Giám mụcchính tòa Giáo phận Thái Bình, đã sửa sang để trở thành ngôi thánh đường khang trang đẹp đẽ.
Ngày 02-02-1996, lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu trong đền thờ, Đức Giám mục Giáo phận đã long trọng cử hành thánh lễ cung hiến nhà thờ chính tòa để ghi nhớ muôn đời.
Để chuẩn bị cho những kỉ niệm lớn: 100 năm xây dựng nhà thờ chính tòa, 60 năm thành lập Giáo phận Thái Bình, Đức Giám mục Giáo phận cùng với toàn thể linh mục, nam nữ tu sĩ và giáo dân lên kế hoạch trùng tu lại ngôi nhà thờ chính tòa đã xuống cấp trầm trọng.
Nhà thờ chính tòa cũ đã được xây dựng từ năm 1906, đã được trùng tu hai lần dưới thời Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ do cha Giuse Mai Trần Huynh là quản xứ Thái Bình thực hiện; một lần dưới thời Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang do cha Giêrônimô Nguyễn Văn Đạo thực hiện. Nhà thờ chính tòa được xây bằng các vật liệu kém là gạch thủ công, cát đào đồng nội với vôi nung gia công, không có bê tông cốt sắt. Trần nhà thờ được thiết kế bằng các chất liệu vôi vữa, rơm tre. Toàn bộ các xà cong được treo bởi các gông bằng gỗ; xà trần và các đầu mộng các xà vòm vì tuổi thọ quá dài nên đã bị mục nát, dù đã khôi phục bằng những dây thép buộc chằng chịt, nay đến ngày sụp đổ. Toàn bộ mái nhà thờ gồm hoành, rui, gỗ và ngói được dựa trên các xà ngang bằng hai thanh sắt chữ I, đã mục nát; quá nhiều lần sửa chữa đã phải dùng giây thép và ốc bulông vít lại, trận bão năm 1997 đã làm nhiều xà bị gãy, toàn bộ lan can bị vỡ nát do tình trạng thụt lún của nhà thờ.
Để tránh tình trạng xấu nhất có thể xảy ra là nhà thờ có thể đổ bất cứ lúc nào trong lúc dâng thánh lễ có đông người tham dự. Theo ý kiến của các chuyên gia xây dựng, nếu trùng tu nhà thờ chính tòa thì kinh phí gấp 2,5 lần xây dựng nhà thờ mới. Vì vậy, Đức Giám mục Giáo phận và toàn thể linh mục đoàn và giáo dân đã quyết định cho xây nhà thờ mới.
Để thuận lợi cho việc xây dựng ngôi thánh đường mới xứng với tầm vóc của ngôi nhà thờ mẹ trong Giáo phận, Đức Giám mục và cha xứ nhà thờ chính tòa đã làm đơn yêu cầu trả lại khu đất trước kia của nhà thờ. Sau một thời gian chính quyền cùng với những hộ sử dụng đất đã đồng ý trả lại cho Giáo phận với quỹ đất là 2986 m2. Năm 2003, Đức Giám mục Giáo phận đã đặt viên đá góc tường, nhưng phải hai năm sau, tức ngày 17-07-2005, nhà thờ chính thức khởi công. Yêu cầu kiến trúc đối với ngôi nhà thờ mới phải đáp ứng được xu hướng mô hình kiến trúc đồ họa đang thịnh hành ở Việt Nam và được địa phương ưa chuộng từ kiểu dáng cho tới đường nét. Phải cố gắng diễn tả càng nhiều ý nghĩa tôn giáo càng tốt; không dập khuôn theo kiến trúc phương tây: gotique, tum, vòm v.v.; không chạy theo kiến trúc Á Đông như cung đình, chùa chiền, lăng tẩm v.v.; không lòe loẹt, rườm rà; phải đảm bảo độ bền vững lâu dài; phải có tầng trệt để xe cho người dự lễ v.v..
Trải qua quá trình thi công đến ngày 13-10-2007, ngôi Nhà Thờ Chính Tòa Thái Bình mới đã được Đức Giám mục Giáo phận cùng với các Đức Giám mục toàn quốc vừa họp xong khóa họp thường niên tại Hà Nội đã về dự lễ và cắt băng khánh thành và thánh hiến.
c. Chủng Viện
Chủng viện Thánh Tâm, trước kia là Tiểu Chủng Viện Thánh Tôma Mỹ Đức (1937-1972), Chủng Viện Mỹ Đức (1972-1977) và hiện nay là Chủng Viện Thánh Tâm (2008 -2009), và hiện nay là Chủng Viện Mỹ Đức. Sau khi được tấn phong Giám mục (02-08-1936), Đức tân Giám mục – Gioan Casado Thuận bắt tay ngay vào việc kiến thiết Giáo phận mới mà ưu tiên hàng đầu của vị chủ chăn là có một cơ sở đào tạo nhân sự cho Giáo phận Thái Bình.
Đức cha đã mời thầy già Yến là người đã từng cộng tác với Đức cha trong việc xây dựng chủng viện thánh Alberto Nam Định v.v., về xây dựng chủng viện Thánh Tôma Mỹ Đức cùng song song với chủng viện là Toà giám mục. Chỉ sau đúng một năm (từ tháng 9-1936 đến tháng 9-1937) với sự lãnh đạo tài tình của Đức cha, tinh thần hăng say, nhiệt tình đóng góp tài chính, công sức của giáo dân Giáo phận Thái Bình đã khánh thành Tiểu Chủng Viện Tôma Mỹ Đức. Tiểu chủng viện là một tòa nhà ba tầng ba tầng cao 14 mét, rộng 13 mét và dài 70 mét nằm tả ngạn bên sông Trà Lý thuộc xã Cát Đàm, làm nơi huấn luyện chủng sinh cho Giáo phận.
Năm 1940, nối thêm 20 mét phía đầu đông của tòa nhà ba tầng làm cho kiến trúc của chủng viện Mỹ Đức theo hình thánh giá.
Sau khi khánh thành Chủng Viện Mỹ Đức, Đức cha Casado Thuận đã đưa toàn bộ tiểu chủng sinh đang học tại Bùi Chu về học tại Mỹ Đức và chính thức chiêu sinh khóa đầu tiên.
Sau biến cố 1954, toàn bộ chủng sinh, 80 Linh mục triều và dòng, các dì phước và hơn 80.000 người di cư vào nam. Chủng viện Mỹ Đức bị bỏ trống một thời gian đến năm 1956 mới mở lại. Năm 1963, sau khi Đức cha Phạm Năng Tĩnh, Giám mục Giáo phận Bùi Chu đã phong chức cho 29 thầy, tất cả các đại chủng viện, tiểu chủng viện trên toàn miền Bắc phải ngưng hoạt động, trong đó có chủng viện Mỹ Đức của Giáo phận Thái Bình.
Năm 1972, Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ xin phép mở lại chủng viện Mỹ Đức và được chính quyền chấp nhận mở khóa đào tạo 1972-1977 cho 9 thầy và 6 Linh mục đã chịu chức trước đó về hàm thụ. Ngày 16-10-1977, cả Giáo phận hân hoan vì từ nay có những thợ gặt mới trên cánh đồng truyền giáo của Giáo phận.
Chủng Viện Mỹ Đức đóng cửa cho đến năm 2008. Vào đúng ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu (quan thầy của Giáo phận) năm 2008, theo đơn đề nghị Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, chính quyền đã chính thức có văn bản trả lời đồng ý cho Đức cha mở lớp bồi dưỡng về triết học và thần học cho 30 thầy lớn tuổi trong Giáo phận. Đức cha đã đổi Chủng Viện Mỹ Đức thành Chủng Viện Thánh Tâm với ước mong các chủng sinh ở đây sẽ là những “Tâm Sĩ” như lòng Chúa mong ước. Trong dịp Tĩnh Tâm Năm linh mục Giáo phận Thái Bình tháng 11-2009, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ cùng linh mục đoàn nhất trí lấy lại tên cũ là Chủng viện Mỹ Đức. Toàn thể Giáo phận cùng nhau xây dựng, củng cố chủng viện Mỹ Đức thành cơ sở đào tạo nhân sự chính thức của Giáo phận hiện tại và tương lai.
d. Các Đền Thánh
* Đền Các Thánh Tử Đạo Đông Phú
   Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang khi về làm mục vụ lần đầu tiên tại Đông Phú vào năm 1992, ngài mong muốn Đông Phú trở thành đền thánh dâng kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Ngày 19-05-1992, ngài đã quyết định cho khai quật và xác nhận hài cốt hai thánh Phêrô Đinh Văn Thuần và Phêrô Đinh Văn Dũng đưa về nhà thờ xứ mẹ Trung Đồng để tôn kính, đời cha cố Đaminh Trịnh Đức Tính. Đồng thời, trong thời gian này ngài cổ võ giáo dân Đông Phú tái thiết lại ngôi thánh đường theo thiết kế hiện đại, khang trang, rộng lớn thay thế ngôi nhà thờ nhỏ bé cũ kỹ. Ngày 06-06-1998, Đức cha đã về chủ sự nghi lễ đặt viên đá góc tường xây dựng ngôi thánh đường, đặt tên là nhà thờ dâng kính các thánh tử đạo Việt Nam chung cho Giáo phận Thái bình. Dưới sự dẫn dắt của cha xứ Vinh Sơn Đỗ Cao Thăng, trong hai năm xây dựng với bao mồ hôi nước mắt của những người con họ đạo Đông Phú, con cháu hai thánh Tử Đạo đã lao động quên mình cùng với những đóng góp giúp đỡ, động viên tinh thần vật chất của Đức cha, của các đấng bậc, thân ân nhân xa gần, ngôi nhà thờ Đông Phú đã dần đi đến hoàn thành.
Vào đại Năm Thánh 2000 của Giáo Hội hoàn vũ, ngày 24-11-2000, nhân ngày kính các thánh tử đạo Việt Nam, Đức cha chính thức về cắt băng và thánh hiến ngôi nhà thờ Đông Phú. Lòng tôn kính các thánh tử đạo và sự ưu ái với Đông Phú cách riêng của vị chủ chăn đầy nhiệt huyết và khôn ngoan đã không nguôi. Ngài tiếp tục cổ võ xây dựng ngôi nhà nguyện quàn hài cốt hai thánh để cho khách hành hương xa gần đến kính viếng.
Ngày 06-06-2006 Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang đã về cắt băng khánh thành và chính thức công bố sắc phong nhà thờ Đông Phú là Đền Thánh Tử Đạo Việt Nam Giáo phận Thái Bình. Cùng với việc phong nhà thờ Đông Phú là Đền Thánh dâng kính các thánh tử đạo Việt Nam.
Ngày 04-08-2007 Đức cha đã ban sắc phong nâng Đông Phú lên hàng Giáo xứ và bổ nhiệm linh mục Giuse Nguyễn Thuân thay mặt Đức cha về phục vụ dân Chúa và trông coi Đền Thánh. Hồng ân ấy được nhân lên gấp bội, ngày 08-04-2008 Đức cha Phanxicô đã đặt Đông Phú trở thành trung tâm tôn thờ Thánh Thể Chúa suốt ngày đêm, để mang lại lợi ích cho giáo dân Đông Phú nói riêng và khách hành hương xa gần nói chung. Vì Chúa Giêsu Thánh Thể chính là nguồn mạch của sự yêu thương và đỉnh cao của sự dâng hiến.
Một biến cố trọng đại đã đến với Giáo xứ Đền Thánh Tử đạo Đông Phú, ngày 02-02-2009 phái đoàn Tòa Thánh Vatican do Đức ông Parolin làm trưởng đoàn đã đến thăm và dâng thánh lễ kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Như lời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong đại lễ tôn vinh hiển thánh 117 chân phước tử đạo Việt Nam tại Rôma ngày 19-06-1988 đã trích lại văn hào Tertulliano: "Máu các thánh tử đạo là hạt giống sinh nhiều tín hữu".
   Tạ ơn Chúa, tạ ơn hai thánh tử đạo quí hương, tri ân Đức cha Giáo phận đã làm cho họ giáo Đông Phú từ một họ giáo nhỏ bé, nghèo nàn, nay đã trở thành Đền Thánh nổi tiếng được nhiều người trong nước và quốc tế biết đến.   
Website: http://www.dtdongphu.com
3. Một số nhận định và dự phóng cho tương lai
a. Nhận định
Từ ngày thành lập đến nay, mặc dầu trải qua những nét thăng trầm do ảnh hưởng của những biến cố lịch sử của thời cuộc, những khó khăn đến từ nhiều phía, nhưng nhìn chung Giáo phận Thái Bình vẫn đứng vững và phát triển. Tuy là một Giáo phận nhỏ và hẻo lánh, Thái Bình vẫn hiệp thông cách sâu xa với Giáo Hội hoàn vũ; người giáo dân Thái Bình vẫn luôn trung thành với Đức Tin truyền thống và làm tròn nghĩa vụ với đất nước và dân tộc.
Biến cố 1954 đã làm cho Thái Bình bị thiếu hụt trầm trọng về mặt nhân sự. Phần lớn giáo dân và linh mục, nam nữ tu sĩ đã di cư vào Nam, có những giáo xứ chỉ còn lại một vài người; không còn một dòng tu nào hiện diện trong Giáo phận.
Từ con số linh mục chỉ đếm được trên đầu ngón tay và không có một dòng tu nào hiện diện trong Giáo phận sau biến cố 1954, đến nay Giáo phận đã có: 66 Linh mục triều, 9 linh mục dòng, 12 dòng tu và tu hội với con số tu sĩ nam nữ là 171; khoảng 80.000 giáo dân vào năm 1954, đến nay, theo báo cáo thường niên của Toà giám mục năm 2010, con số này đã lên tới 134.000 người.
b. Dự phóng cho tương lai
+ Mục Vụ Truyền Giáo, Giáo Dục Và Giáo Lý
Truyền giáo: Vẫn luôn là ưu tiên hàng đầu của công tác mục vụ. Khuyến khích mọi thành phần Dân Chúa tham gia công việc này, đặc biệt là các dòng tu. Tiếp tục thực hiệân công cuộc đối thọai với các anh em ngoài Kitô giáo; xúc tiến hơn nữa việc hội nhập văn hóa.
Giáo dục và Giáo lý: Khuyến khích, nâng đỡ con em Công Giáo tích cực học tập văn hóa và giáo lý. Nhân rộng các quỹ khuyến học tại các Giáo xứ. Giúp đỡ các học sinh nghèo chăm học. Tiếp tục phổ cập giáo lý cho mọi thành phần Dân Chúa theo từng lứa tuổi. Xây dựng cơ sở để đào tạo các giáo lý viên chuyên nghiệp cấp Giáo phận (có thể trả lương hoặc trợ giúp về mặt kinh tế cho các giáo lý viên này)
+ Vấn Đề Đào Tạo Nhân Sự, Ơn Gọi
Tiếp tục gửi các Linh mục đi du học để có thêm nhân sự làm việc tại Giáo phận.
Tiếp tục gửi các chủng sinh tới theo học tại chủng viện Hà Nội.
Chủng Viện Mỹ Đức tiếp tục đào tạo các thầy lớn tuổi, và tiếp nhận các Tu sinh đã qua hai năm tại Toà Giám mục để đào tạo nhân sự cho giáo phận.
Tại Toà Giám mục, Đức Giám mục Giáo phận và Ban Ơn gọi cứ hai năm chiêu sinh một lần khoá Tu sinh để học tập và tu luyện chuẩn bị cho các kỳ thi vào Đại chủng viện Hà Nội và chủng viện Mỹ Đức.
Các nhà xứ có các cha cư trú vẫn được sử dụng làm nơi ươm trồng ơn gọi.
+ Hoạt Động Của Các Cơ Sở Văn Hóa Xã Hội Công Giáo
Trung tâm Mục vụ của các Giáo xứ vừa là nơi diễn ra các hoạt động mục vụ của Giáo xứ, vừa là nơi sinh hoạt văn hóa (tổ chức các lớp bồi dưỡng văn hóa, giao lưu văn nghệ...).
Khu vực nhà xứ, nơi có nhiệm sở của các cha, là nơi giao lưu văn hóa thể thao nhằm giúp cho những người ngoài công giáo gần gũi và hiểu người Công Giáo hơn.


 

Tài liệu tham khảo
1. Sử Ký Giáo phận Trung, Phú Nhai đường, 1916.
2. Hoàng Đức Trinh, Vườn Vạn Tuế Thái Bình, Tủ sách họ Hoàng Bồ Ngọc, 2006.
3. Linh mục. Bùi Đức Sinh, Lịch sử Giáo Hội Công Giáo, T I&II, Veritas Edition Calgary-Cannada 1999.
4. Một giáo sư sử học, Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam, T I,II & III, Veritas Edition Calgary-Cannada 1998.
5. Linh mục. Trần Phúc Long, 25 Giáo phận Việt Nam hai mươi năm qua, tập III, 1998.
6. Tòa Giám mục Thái Bình, Kỷ yếu năm thánh Giáo phận Thái Bình, Nxb Hà Nội, 1996.
7. Lê Ngọc Bích (chủ biên), Lê Đình Bảng, Lê Thiện Sĩ, Giám mục Người Nước Ngoài qua chặng đường 1659-1975 với các Giáo phận Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2009

------****-------

19 Thánh Tử đạo quê hương Thái Bình
Tài liệu theo tác giả Px. Đào Trung Hiệu OP.
Những vần thơ tóm lược được trích trong “Vườn Vạn Tuế” của Hoàng Đức Trinh

 

 
Thứ tự các thánh được trình bày theo ngày lễ kính các ngài ghi trong lịch phụng vụ.
 
                                                                                            
 
 
 
Các Thánh Tử Đạo Thái Bình
 
Xanh Vườn Vạn Tuế giáo đoàn ta,
Mười chín anh hùng ngát hương xa:
Mục tử chuyên chăm, năm Hiển thánh,
Đạo đồ phục vụ, bốn thầy già.
Năm ông cuốc bẫm trồng nhân đức,
Một thợ khâu may đính nết na.
Bốn đấng ngư dân chài lưới phúc,
Thái Bình phấn khởi tụng mừng ca.
 

Ngày 30 tháng 01
Linh mục dòng ba Đaminh (1780-1860)
Thánh Tôma Ngô Túc Khuông
Vạn tuế lưu danh Ngô Túc Khuông,
Đường quan mở rộng cũng lơi buông.
Tu thân tích đức tâm linh chính,
Lợi lộc gian trần xã hội suông.
Thánh giá trên cầu thêm kính ngưỡng,
Con tim trong ngực vẫn ngay luồng.
Gian lao thử thách đời bi kịch,
Vững chí tin yêu đến mãn tuồng.
 
 Vì Chúa bỏ vinh sang
Đọc lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy không lạ gì mẫu gương của thánh Phanxicô thành Assisi hay thánh Tôma thành Aquinô đã từ bỏ dòng dõi quí tộc giàu sang để vâng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa, đã theo gương đức Kitô, Thầy Chí Thánh, Đấng Chủ Tế muôn loài chấp nhận trở nên nghèo khó không chốn nương thân để loan báo Tin Mừng Cứu Độ. Thánh Tôma Khuông cũng vậy, ngài đã quên đi dòng dõi quyền quý sang trọng, để theo tiếng Chúa kêo gọi và trở thành chứng nhân cho Đức Kitô, chứng nhân cho một tôn giáo mới mẻ đối với dân tộc Việt Nam, một tôn giáo bị miệt thị và chịu bách hại nặng nề. Quả thật, chỉ có Thiên Chúa mới khiến được cha hy sinh như thế. Và cũng thật quý báu biết bao tấm lòng của cha đã sẵn sàng đáp lại tiếng kêu gọi đó, đến nỗi hiến dân chính mạng sống mình cho tình yêu Thiên Chúa.
 Phản đối bạo động
Tôma Khuông sinh khoảng năm 1780 (thời Trịnh Nguyễn) tại làng Nam Hòa xứ Tiên Chu, tỉnh Hưng Yên. Con đường danh vọng rộng mở cho cậu bé thông minh xuất sắc này, vì cha cậu đã từng làm Tuần Phủ ở Hưng Yên. Nhưng cậu đã nghe theo tiếng gọi linh thiêng và xin vào nhà Đức Chúa Trời. Sau đó cậu theo học tại chủng viện và thụ phong linh mục.
Trong trách nhiệm coi sóc các linh hồn, cha Khuông nổi tiếng là một linh mục khôn ngoan, thánh thiện, khéo giao thiệp và nhiệt thành với xứ vụ truyền giảng Tin Mừng. Sống trong giáo phận Dòng Đaminh đảm trách, cha Khuông muốn liên kết sâu xa hơn với dòng, cha đã gia nhập dòng ba Đaminh và cổ động nhiều giáo hữu cùng tham gia để thánh hóa đời sống mỗi ngày.
Trải qua ba thời bách hại của các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, cha Tôma Khuông đã khôn khéo thân thiện với quan chức địa phương để tiếp tục thi hành việc mục vụ. Nhiều lần cha bị bắt giữ, nhưng nhờ những quan hệ này, cha được trả tự do. Tuy nhiên từ năm 1858, cuộc bách hại của vua Tự Đức gia tăng mãnh liệt, công việc của cha gặp nhiều khó khăn hơn. Áp lực của quân Pháp đã khiến vua Tự Đức tức giận và nghi ngờ tới Công Giáo tiếp tay với thực dân, nên thẳng tay đàn áp họ. Một vài làng Công Giáo có tổ chức một số thanh niên để tự vệ trước sự càn quét của quân lính nhà vua. Cha Khuông khi đó đã gần 80 tuổi, hoàn toàn không hưởng ứng chủ trương này. Năm 1859, thấy một giáo dân Cao Xá tổ chức võ trang, cha liền ngăn cản và quyết định lánh sang địa phận Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng). Quyết định này khiến cha bị bắt và được lãnh phúc tử đạo.
Khi cha đến đầu cầu làng Trần Xá, cha thấy quân lính đã đặt sẵn ở đó một Thánh Giá buộc mọi người đi qua phải đạp lên. Là một Linh mục của Chúa Kitô, cha nhất định quay lưng trở lại tìm lối đi khác. Thái độ dứt khoát đó, khiến quân lính nhận ra và chận cha lại. Khi cha khẳng khái từ chối việc bước qua Thánh Giá, lính liền bắt trói cha cùng với người tín hữu đi theo cha.
Sau 15 ngày giam giữ, cha Tôma Khuông và bốn giáo hữu khác có địa vị, được áp giải tới quan Tổng đốc xét xử. Họ bắt cha bỏ đạo, bước qua Thập Giá và yêu cầu cha khuyên các tín hữu khác làm như vậy để được tự do về nhà. Khi đó người tôi trung của Chúa trả lời:
"Tôi nay đã 80 tuổi rồi, lại là Linh mục Công Giáo, tôi luôn luôn nhắc nhở các tín hữu trung thành giữ đạo Thánh Chúa. Giờ đây nếu tôi khuyên họ chối đạo thì tôi thật bất xứng và chẳng đáng làm Linh mục. Tôi và các bạn tôi không mong ước gì hơn là được hy sinh mạng sống vì đạo Chúa".
 Thánh giá và vinh quang
Lòng khao khát mong mỏi trên của vị anh hùng đức tin đã được thể hiện. Án trảm quyết do quan Tổng đốc đệ vào kinh được vua Tự Đức chuẩn y. Và ngày 30.1.1860 cha Tôma Khuông bị điệu ra pháp trường Hưng Yên. Trên đường tới đồi Canvê của mình, mọi người thấy vị cha già khả kính chống cây gậy mà cha đã cẩn thận cột thêm một thanh ngang cho giống hình Thánh Giá, bước đi chậm rãi. Cha vui vẻ chào giã biệt những người đang ngậm ngùi thương tiếc tiễn đưa.
Cây Thánh Giá, biểu tượng suốt đời cha đã tin tưởng và công bố; cây Thánh Giá mà cha không bao giờ giày đạp cho dù phải chịu muôn nỗi gian khổ và cả cái chết, thì giờ đây, với cách biểu hiện đơn giản đó, cha muốn nói với mọi người rằng: cho đến phút cuối cùng của cuộc đời, Thánh Giá vẫn mãi mãi là niềm an ủi và là chỗ dựa vững chắc cho người Kitô hữu. Đến nơi xử, cha Khuông quỳ gối trang nghiêm cầu nguyện trước cây Thánh Giá đó rồi cúi đầu lãnh nhận lưỡi gươm đem lại vinh phúc ngàn thu.
Ngày 29.4.1951 cùng với 24 vị Tử đạo khác tại Việt Nam, cha Tôma Khuông được Đức Piô XII suy tôn lên hàng Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển Thánh.
 
Linh mục dòng Đaminh (1811-1861)
 Thánh Giuse Trần Văn Tuân
Mẹ cha đạo đức tiếng nông dân,
Tạc đúc anh hùng Hiển thánh Tuân.
Trần Xá quê hương nhờ phúc cả,
Ngọc Đồng nhiệm sở sẻ hồng ân.
Con chiên bội giáo mời làm phúc,
Mục tử nhân lành vạ chuốc thân.
Án trảm giơ đầu xin lãnh nhận,
Triều thiên tử đạo sáng muôn phần.
 
Chứng nhân tình thương
Thiên Chúa luôn luôn tác tạo những mùa xuân tươi đẹp. Ngài ban cho mùa màng tiếp tục sinh hoa kết trái. Cũng thế do bàn tay uy quyền và rộng rãi của Ngài Thiên Chúa sẽ gieo vãi trên mỗi thế hệ đang lên đầy đủ những đức tín dịu hiền nhân ái, để nâng đỡ những người buồn thảm, hỗ trợ những kẻ lâm nguy. Tương lai sẽ do tình thương, vì không sớm thì muộn, tình thương sẽ thắng sự oán thù". (Fx. Ronsin).
Linh mục Giuse Tuân đã sống và chết hiên ngang để làm chứng cho Thiên Chúa, Đấng sáng tạo muôn loài, mà con người là thụ tạo được Ngài yêu thương hơn cả, đến nỗi ban chính con một Ngài là Đức Giêsu Kitô, để cho thế gian được ơn tái sinh vào sự sống viên mãn cùng Ngài (Ga 10,10).
Giuse Tuân chào đời vào khoảng năm 1811 tại họ Trần Xá, xứ Cao Xá, tỉnh Hưng Yên. Tuy là gia đình nông dân nghèo, nhưng cha mẹ cậu là người đạo đức tận tâm giáo dục con cái. Từ cái nôi ấm cúng đó, Giuse Tuân đã lớn lên trong chân lý đức tin và tình thương của Thiên Chúa, của cha mẹ và của mọi người.
Từ thiếu niên cậu Tuân đã được nhận vào nhà Đức Chúa Trời học tập và sống tinh thần phúc âm. Sau đó cậu được chọn vào học chủng viện, rồi thụ phong Linh Mục, trở thành người phục vụ Tin Mừng trong thời bách hại tàn khốc nhất dưới triều đại vua Tự Đức, với nhiều cuộc bắt bớ nhằm tiêu diệt các giáo sĩ và giáo dân trên đất Việt.
Để có cơ hội cộng tác chặt chẽ hơn với các thừa sai Đaminh trong công cuộc truyền giáo, năm 1857, cha Giuse Tuân xin vào dòng Anh em thuyết giáo (trong dòng gọi cha là Hoan). Năm 1858, cha được tuyên khấn trong dòng và trở thành một tu sĩ gương mẫu đạo đức.
 Truyền bá tình thương
Trước cơn bách hại tàn bạo của vua Tự Đức, vì lo lắng cho đàn chiên bơ vơ, cha Tuân đã lẩn trốn để có thể âm thầm phục vụ cho con cái trong hoàn cảnh khó khăn. Đầu năm 1861, khi cha đang giúp ở xứ Ngọc Đồng, một bà già bị bệnh nặng sai con trai đi mời cha Tuân về ban bí tích sau cùng cho bà. Không ngờ người con ngỗ nghịch này vì ham lợi lộc đã trở thành kẻ phản bội. Hắn đi tố giác với quan huyện để lãnh thưởng. Quan liền bắt cha giải lên tỉnh Hưng Yên nộp cho quan Tổng đốc.
Tại công đường, dù cha Tuân bị hành hạ, tra tấn, gông cùm… vẫn hiên ngang trung thành với thầy chí Thánh. Cha một mực làm chứng cho niềm tin của mình vào Đức Giêsu dù hy sinh cả mạng sống. Hân hoan với diễm phúc tử đạo sắp được lãnh nhận, bất chấp những đau đớn và khổ hình trong tù, cha vẫn tiếp tục rao giảng tình thương vô biên của Thiên Chúa. Cha khích lệ tinh thần những anh em tín hữu đang bị giam cầm, an ủi những anh em giáo hữu đến thăm cha và ban bí tích cho họ.
Trong tình yêu Thiên Chúa
Cuối cùng người chiến sĩ anh dũng đã chạy tới đích. Sau nhiều cực hình trong mấy tháng trời, án trảm quyết cha Tuân được vua Tự Đức châu phê. Và ngày 29-04-1861, cha bị đem ra pháp trường Hưng Yên xử chém.
Tại pháp trường một giáo hữu chứng kiến cảnh hành quyết cha, bà Anna Bình đã làm chứng trong hồ sơ phong thánh như sau :
"Tôi đã thấy người tôi tá Chúa (cha Tuân) đi lãnh án tử với thái độ nghiêm trang, dũng cảm và hân hoan. Cha phải bước đi khó khăn chậm chạp vì hai chân bị xiềng xích nặng nề. Khi tới nơi xử, cha quỳ gối xuống kêu tên cực thánh Chúa Giêsu, biểu lộ lòng tin yêu và phó thác, rồi bình thản đón chờ cái chết. Có nhiều người đã chứng kiến cái chết oai hùng của cha. Tôi đến gần và lấy vải thấm máu cha vừa đổ xuống".
Đúng 90 năm sau ngày vị anh hùng đức tin về Thiên Quốc ngày 29-04-1951. Đức Piô XII suy tôn linh mục Giuse Tuân lên bậc chân phước cùng với 24 vị thánh tử đạo khác trên đất Việt. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.
Giáo dân (1843 – 1862)
Thánh Giuse Phạm Văn Túc
Giam cầm bốn tháng tại Đông Khê,
Thánh Túc lòng tin vẫn hả hê.
“Chúa muốn làm sao xin chịu thế.”
Quan truyền khoá quá chẳng thèm nghe.
Hồn say vinh phúc, gươm đao phủ,
Xác chọn đơn hèn, tấm chiếu mê.
Hoàng Xá, người trai nêu dũng chí,
Triều thiên đón nhận phúc tràn trề.
 
Vì sao lấp lánh
Giữa tuổi thanh niên, tuổi của những ước mơ và hy vọng, tuổi của hăng say và nhiệt thành, tuổi mà sự chăm sóc và dưỡng dục đòi hỏi biết bao công phu đang chín dần, để trở thành người hữu ích cho gia đình và xã hội. Với cái tuổi thanh xuân đáng quý ấy, Giuse Túc đã chiếu sáng như một vì sao.
Giuse Túc sinh năm 1843 tại họ đạo Hoàng Xá, xứ Ngọc Đồng, tỉnh Hưng Yên. Cha là Giuse Cẩn và mẹ là bà Trí. Trong cái nôi của gia đình nông dân đạo đức ấy, cậu Giuse Túc đã sinh ra và lớn lên với cuộc sống cần cù, hiền hòa như hầu hết mọi thanh niên Việt Nam ngày ngày miệt mài với nương ruộng. Nhưng thân phụ cậu không muốn cậu tiếp tục với công việc ruộng nương này, đã khuyến khích và lo liệu cho cậu theo nghiệp khoa cử. Cậu Túc vâng lời thân phụ chăm chỉ học chữ Nôm.
Những cuộc bách hại đạo của vua Tự Đức dai dẳng ngày càng khốc liệt hơn. Vì với chiếu chỉ Phân sáp ngày 05.08.1861, thì không một người nào, không một căn nhà nào của người công Giáo được bình yên. Biết bao người dân hiền hòa vô tội bị đoạ đày, bị tàn sát và bị ghép cho những tội trạng mà họ không bao giờ nghĩ đến.
Gian truân thử đức
Anh Giuse Túc bị bắt vào đầu năm 1862 khi đang ở độ tuổi thanh xuân tươi đẹp : tuổi 19. Anh bị tạm giam ít ngày ở huyện rồi bị giải về tỉnh. Sau đó, anh bị biệt giam 4 tháng tại Đông Khê, phủ Khoái Châu. Ban ngày phải mang gông nặng, ban đêm chân bị cùm xích. Dù vậy anh Túc vẫn trung kiên với đức tin chân chính. Nhiều bạn bè cùng bị giam với anh như Phêrô Kiên (18 tuổi), Phêrô Ngân (15 tuổi), Phêrô Lương (20 tuổi) cũng được kể vào số tôi tớ Chúa đang được chuẩn bị suy tôn Chân Phước. Các anh thường gặp nhau đọc kinh chung và an ủi khích lệ nhau can đảm đến cùng.
Một số thân hữu lo lót quân lính để tạo cơ hội cho anh chốn khỏi ngục, nhưng anh nói : "Tôi sẽ không trốn bất cứ cách nào, vì nếu tôi trốn sẽ làm khổ người khác. Chúa muốn thế nào, tôi xin nhận như thế".
Khi một bạn tù tỏ vẻ lo âu không biết khi bị xử, người nhà có được tin để lãnh xác hay không anh Túc bình thản bày tỏ tâm trạng của mình : "Tôi an tâm, không lo lắng gì cả. Nếu Thiên Chúa cho tôi đổ máu vì đạo, tôi tin chắc sẽ được về trời. Còn thân xác này chôn được thì chôn, bằng không chôn được thì thôi”.
Theo lá thư đề ngày 02.08.1862, cha Estévez Nam cho chúng ta biết tình hình ở tỉnh Hưng Yên:
"… Trong tỉnh Hưng Yên, các quan còn giữ tợn hơn. Cuối tháng 5 rất nhiều giáo hữu bị dẫn lên tỉnh. Ngày 01.06, các quan giết 100 người, hôm sau giết 600, ngày mùng 3 giết nhiều hơn nữa. Các làng ngoại giáo được lệnh giết hết các tù nhân có đạo, và họ đã triệt để thi hành, nên tôi không biết được con số phải chết trong kỳ này…".
Cuối tháng 5 năm đó, anh túc bị giải về Hưng Yên. Sau những lời dụ dỗ, dọa nạt và tra khảo nhiều lần không làm nay chuyển được lòng tin sắt đá của anh, các quan nhất trí kết án trảm quyết anh.
Khi lập án phong thánh cho anh Giuse Túc, một số giáo dân hiên diện trong cuộc tử đạo đã làm chứng, trong đó, ông Đaminh Hưng kể lại rằng : "Tôi đi theo cậu Túc ra tới pháp trường. cậu sốt sắng cầu nguyện và luôn kêu tên cực thánh Chúa Giêsu. Sau khi cậu bị xử chém đầu, tôi đã mai táng thi thể cậu rất tử tế".
Bà Maria Linh kể lại bà đã nhìn thấy đầu của vị tôi tớ Chúa bị quân lính tung lên cao cho quan thấy, để minh chứng với quan là họ đã triệt để thi hành mệnh lệnh. Hôm đó là ngày 01.06.1862. Thi hài anh Giuse Túc, người chiến sĩ đức tin được chôn tại chỗ, sau được cải táng và đem về nhà thờ xứ Ngọc Đồng, tỉnh Hưng yên.
Ngày 29.04.1951, Đức Piô XII suy tôn anh Giuse Túc lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.
Thủ bạ (1802 – 1862)
 Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng
Thánh Đổng quê hương họ Vực Đường,
Vào thời cấm đạo lắm tai ương.
Chân tay xích trói vì danh giáo,
Bụng dạ cồn cào chẳng chút lương.
Cắt má bôi đi dòng tả đạo,
Nghiêng đầu chấp nhận một làm gương.
Niềm tin chói lói muôn đời toả,
Lê Xá đồng hương mãi dõi gương.
 
Bất khuất vì chính đạo
Một trong năm điều gay go trong chiếu chỉ cấm đạo của vua Tự Đức ban hành ngày 05.08.1861, là mỗi tín hữu Kitô giáo chịu thích chữ vào hai bên má, một bên chữ "tả đạo", còn bên kia là tên xã huyện của người đó. Lối thích tự bằng thanh sắt nung đỏ vào má, để khi vết thương lành vẫn còn lưu lại dấu vết, hầu dễ hành hạ, dễ bắt bớ hoặc dễ phân biệt đối xử, là một sáng kiến, nếu không của vua Tự Đức thì cũng của một quan lớn nào đó trong triều đình Huế bấy giờ. Có thể nói đây là hình khổ có một không hai trong lịch sử bách hại Giáo Hội Công Giáo toàn cầu.
Nhưng một cụ già khoảng 60 tuổi, đã giám hiên ngang làm trái lại điều quy định ác nghiệt đó. một lần bị khắc hai chữ "Tả Đạo", cụ đã rạch xóa đi. Lần khác, thay vì bị quân lính khắc chữ Tả Đạo, ông cụ xin quan, để kín đáo nhờ người bạn tù khắc lên má hai chữ "Chính Đạo", khiến quan trên vô cùng tức giận. Cụ già can trường đó chính là thánh Phaolô Đổng.
Chấp nhận mọi gian khổ
Phaolô Đổng sinh năm 1802 tại Vực Đường, tỉnh Hưng Yên. Phaolô Đổng là một giáo dân của xứ Cao Xá, một trong những xứ có truyền thống đạo đức lâi đời trong giáo phận Trung. Ông Đổng từng làm quản lý trông nom sổ sách, tài sản họ đạo trong suốt sáu tháng trời.
Thời ông Trùm Đổng bị bắt vì đạo, Lê Xá là một làng thuộc tổng Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Người dân Lê Xá đón nhận đức tin có lẽ từ đầu thế kỷ 18, lúc ấy mới có ít tín hữu, nên khi thành lâp họ đạo lấy tên là họ Vực Đường, nhận Thánh Tôma Tông đồ là quan thầy, thuộc xé Kẻ Vân (Đan Tràng). Đầu thế kỷ thứ 19, vì thiếu các vị chủ chăn, nên Kẻ Vân phải nhập làm một với Cao Xá, Vực Đường vì thế trở thành một họ lẻ thuộc xứ Cao Xá. Mãi đến năm 1915, Đan Tràng trở lại thành giáo xứ, Vực Đường lại trở về xứ Đan Tràng. Cho đến năm 1944, Đức cha Santos Ubierna Ninh đã ban sắc nâng Vực Đường lên thành giáo xứ. Lúc ấy Vực Đường đổi tên, gọi theo tên làng, là giáo xứ Lê Xá.
(trích theo “Vườn Vạn Tuế” của Hoàng Đức Trinh)
Thời đó thi hành chiếu chỉ cấm đạo, các quan đi tới từng làng Công Giáo lấy lý do kiểm tra dân số, nhưng thực ra để bắt các Kitô hữu phải vâng lệnh vua mà bỏ đạo. Quan truyền đặt tượng Thánh Giá xuống đất và ép buộc mọi người phải đạp lên. Ai không chịu đạp Thánh Giá thì bị trói lại, bị đóng gông giải về tỉnh. Ông Phaolô Đổng bị bắt trong trường hợp tương tự vào ngày 25.11.1861, khi ông cam đảm nhận mình là Kitô hữu, và cương quyết không chịu chà đạp Thánh Giá.
Quan truyền quân lính giải ông về huyện Ân Thi. Tại đây, quan hứa sẽ cho nhiều tiền nếu ông bỏ đạo. Nhưng ông nhất mực từ chối và khẳng định với quan về lòng trung thành với Chúc Kitô. Do đó, ông phải chịu hành hạ, mang xiềng xích nặng nề trong tù. Tiếp theo, lính được lệnh giải ông về Hưng Yên. Vừa tới cửa thành, ông Phaolô Đổng thấy một cây Thánh Giá trên mặt đất, ai muốn qua phải đạp lên. Ông nhất quyết đứng lại và không chịu bước qua. Quân lính đánh đập ông tàn nhẫn, nhưng vẫn không cưỡng bức được vị anh hùng đức tin. Sau cùng họ nhốt ông vào một cái cũi chật hẹp để khiêng qua.
Gần một năm trong tù cực khổ, ông Đổng ban ngày phải mang gông, đêm đến chân chịu xiềng xích. Nhiều lần bị quan tra hỏi, trước sau như một ông cương quyết giữ vững đức tin. Lính dã man đánh đập ông nhiều lần, khiến thân mình vị chứng nhân đầy những vết thương đẫm máu.
Ông Phaolô Đổng khẳng khái không chịu cho quân lính khắc hai chữ "Tả Đạo" vào má, nên bị cấm cốc (bắt nhịn ăn) nhiều ngày. Dần dần ông rũ liệt đuối sức. Có lần người lính canh động lòng thương cho ông chút cơm và chén nước, ông lại nhường cho người bạn tù đồng cảnh ngộ. Ít hôm sau, không chịu nổi cơn đói khát dày vò, ông phải nhai vài miếng vải áo để quên đi. Thế rồi quân lính dùng sức mạnh khắc trên má ông hai chữ "Tả Đạo", nhưng ông cam đảm rạch xóa đi.
Tám ngày sau, kiệt lực vì đòn vọt và đói khát, ông Phaolô Đổng bất tỉnh mê man, quân lính phải khó khăn lắm mới làm cho ông tỉnh lại được. Quan cho phép ông ăn uống và ra lệnh thích tự trên má ông lần nữa. Ông xin quan để người bạn tù làm việc này, nhưng thay vì khắc hai chữ "Tả Đạo", ông lại bảo người bạn tù khắc hai chữ "Chính Đạo", khiến quan xem thấy nổi giận và ra lệnh cấm cốc thêm ít ngày, rồi kết án tử hình ông.
Trước tòa điều tra phong thánh, người cháu gái ông làm chứng rằng : "Khi nghe tin mình bị trảm quyết, ông rất vui mừng, sấp mình xuống đất tạ ơn Thiên Chúa, cầu nguyện sốt sắng và đọc kinh An Năn Tội".
Trên đường ra pháp trường, ông Đổng dọn mình chết lành và đọc kinh phó dâng linh hồn (kinh Giáo Hội khuyên đọc giúp người hấp hối). Ông đã lớn tiếng kêu tên cực trọng Chúa Giêsu ba lần trước khi đao phủ chém đứt đầu, đưa linh hồn vị tử đạo về Thiên Quốc. Hôm đó là ngày 03.06.1862.
Ngày 29.04.1951, trong số 19 giáo hữu được suy tôn chân Phước tại Vương Cung Thánh Đường Phêrô do Đức Piô XII chủ sự, danh tính và tiểu sử ông Phaolô Đổng đã khiến mọi người phải khâm phục một mẫu gương hiên ngang, can đảm của con dân Việt Nam, tuy nhỏ bé và nghèo nàn, nhưng lại giàu nghĩa khí anh hùng bất khuất.
Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.
 

 

2 Thánh
Ngư phủ (1812 – 1862)
Thánh Đaminh Trần Văn Toái
Ngồi xe đến huyện để giao mình,
Thánh Toái hiên ngang chọn phúc vinh.
Ba Lạt giăng câu rèn đức mến,
Nhị Bình bủa lưới luyện lòng tin.
Kiên cường chín tháng tù Tang Giá,
Đạo đức năm mươi chí Kẻ Mèn.
Lửa thế thiêu sinh người dũng khí,
Triều thiên lấp lánh cõi trường sinh.
 
Ngư phủ (1817 – 1862)
Thánh Đaminh Trần Văn Huyện
Phong ba bách đạo đẩy xô thuyền,
Thánh Huyện niềm tin vẫn vững nguyên.
Chín tháng lao tù nung chí lớn,
Ngàn thu hưởng trọn phúc bình yên.
Đông Thành vất vả đời ngư phủ,
Tang Giá điêu linh ách bạo quyền.
Lửa bốc hơi tàn kinh vẫn nguyện,
Hy sinh vì Chúa mới no nguyền.
 
Lễ toàn thiêu
Trong hạnh tích 117 vị thánh tử đạo trên đất Việt, chỉ có sáu bản án thiêu sinh, và tất cả đều diễn ra vào tháng 06.1962. Thánh Đaminh Toại và Đaminh Huyên là hai vị đầu tiên được vinh dự trở thành của lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa vào đúng ngày vua Tự Đức ký hòa ước nhâm tuất cho phép tự do tôn giáo (06-06-1862). Ba ngày trước khi bản án được thi hành, hai vị đã biết tin mà không chút nhụt chí. Thay vì sợ hãi, hai vị đã vui mừng tạ ơn Thiên Chúa. có lẽ như thánh Polycarpo thuở xưa khi lên giàn lửa, hai vị đã tin tưởng rằng :
"Đấng đã giúp tôi quyết định chịu đau khổ vì Ngài, sẽ cho tôi sức mạnh. Đấng ấy sẽ làm cho lửa dịu lại và cho tôi đủ sức lướt thắng mọi thử thách".
 Không để mất cơ hội
Hai ông Đaminh Toại và Đaminh Huyên đều là người làng Đông Thành, tỉnh Thái Bình, đồng thời là tín hữu của làng Đông Thành (Đông Thành, Đại Đồng và Trung Đồng là ba xứ được tách ra từ xứ Kẻ Mèn, thuộc giáo phận Trung Đàng Ngoài). Cả hai đã lập gia đình và là những gia trưởng đạo đức, gương mẫu. Hai ông làm nghề đánh cá trên sông Nhị Bình, gần cửa Ba Lạt. Khi bị lính bắt, ông Toại đã trên 50 tuổi, còn ông Huyên 45 tuổi.
Hai ông Toại và Huyên cùng với 16.000 giáo hữu giáo phận Trung là nạn nhân trực tiếp của chiếu chỉ Phân sáp tháng 08.1861 của vua Tự Đức. Theo chiếu chỉ này, quân lính và những dân làng ngoại giáo được phép tràn vào các khu vực Công Giáo để tịch thu tài sản, sau đó bắt trói các giáo hữu đưa lên huyện để khắc trên má hai chữ "Tả Đạo", rồi hoặc trao họ cho người ngoại giáo quản lý, hoặc giam chung họ trong ngục.
Làng Đông Thành cũng cùng chung số phận đó. Lính bắt ông Đaminh Huyên và giải lên huyện Quỳnh Côi (Quỳnh Phụ). Ông Toại vì bị bệnh tật không thể đi bộ theo quân lính được, nên họ đề nghị ông nộp tiền chuộc nếu muốn tự do về xum họp với gia đình. Nhưng ông đã từ chối vì không muốn để mất cơ hội quí báu là hiến dâng mạng sống mình minh chứng cho niềm tin và tình yêu vào Thiên Chúa. Ông xin quan cho phép đi xe đến huyện trình diện, để được chung số phận với các giáo hữu cùng xứ đạo.
 Kiên Tâm bền chí vì Đức Kitô
Tại huyện Quỳnh Côi, sau khi khẳng định lập trường đức tin của mình, hai ông Toại, Huyên bị tống giam vào ngục tù Tăng Già. Suốt thời gian chín tháng ở đây, mọi người có thể thấy rõ lòng quả cảm và kiên cường của hai ông. Nào đói, nào khát, nào đòn vọt và ngay cả án tử hình cũng không làm các ông nản lòng. Ngược lại, hai ông tiếp tục khích lệ các bạn kiên trì giữ vững niềm tin. Ông Toại thường nói với các bạn tù:
"Nào anh em, hãy can đảm lên ! Chúng ta chịu khổ hình vì Đức Kitô, nên chúng ta phải đón nhận đau khổ cách nhẫn nại. Chúng ta phải bền chí đến cùng, và nếu cần, sẵn sàng hy sinh mạng sống vì Chúa".
Nhiều lần bị dẫn đến trước công đường và bị ép buộc chà đạp Thánh giá, hai ông Đaminh Toại và Đaminh Huyên khẳng khái phản đối. Các quan thấy khó lòng lay chuyển được hai nhân chứng của Chúa, nên kết án thiêu sinh cả hai vị. Khi biết tin này, hai vị hân hoan tạ ơn Chúa.
Đến ngày xử án, sáng 05-06-1862, hai vị vui vẻ rảo bước đến giàn hỏa thiêu dành sẵn cho mình. Trước sự chứng kiến của rất đông người, hai ông bước vào cũi tre chờ đợi. Những người hiện diện đều xúc động khi nghe rõ các ông cất tiếng cầu nguyện thật lớn trong khi ngọn lửa phừng phực bốc cao.
Không ai ghi lại những lời hai vị đã cầu nguyện khi bị hỏa thiêu, nhưng dựa vào thái độ và tâm tình của các vị, chúng ta có thể liên tưởng đến lời cầu nguyện của thánh Polycarpo trên giàn lửa thủa xưa : "Lạy Chúa các thiên binh, Chúa Tể trời đất, Đấng bênh vực kẻ công chính và những ai bước đi trong sự hiện diện của người. Con là một kẻ bé mọn trong các tôi tớ Chúa đây, xin tạ ơn người đã cho vinh dự được đau khổ, được cầm trong tay triều thiên tử đạo và được kề môi đón nhận chén thương khó. Này đây lạy Chúa, hiến tế con sắp hoàn tất trong ngày hôm nay, con sẽ được thấy lời hứa của Người thể hiện. Amen".
Ngày 29-04-1951, Đức Piô XII đã suy tôn hai ông Đaminh Toại và Đaminh Huyên lên hàng Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các ngài lên bậc Hiển thánh.
Ngư phủ (1800 – 1862)
Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng
Lênh đênh sóng nước kiếp ngư dân,
Thánh Dũng kiên cường sống Phúc âm.
Đông Phú, tâm thành con Hội Thánh,
Ngọc Chi, dạ vững lốt tù nhân.
“Mừng lên tôi chết vì Danh Chúa,
Khóc thảm ai buồn thói thế gian.”
Lửa đốt hân hoan người chứng đạo,
Hồn thiêng lãnh nhận phúc thanh nhàn.
Lý trưởng Ngư phủ (1800 – 1862)
Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần
Đông Phú mừng vui có Thánh Thuần,
Hồn thiêng xác thể vững đôi phần:
Lý tưởng lòng dân luôn tín cẩn,
Trùm khu ý Chúa vẫn hằng tuân.
Ngọc Chi chín tháng gông đeo cổ,
Lương Mỹ ngày cùng lửa đốt thân.
Vạn tuế trao tay người ngư phủ,
Tín hữu Trung Đồng dõi bước chân.
 
Hai ngọn đuốc sáng
Đức Kitô, ánh sáng vĩnh cửu đã nhập thể trong trần gian để mặc khải về Chân Lý Cứu Độ. Ngài đến và kêu mời những ai theo Ngài hãy trở nên ánh sáng cho thế gian, làm chứng cho Tin Mừng Cứu độ bằng lời nói, bằng thái độ và bằng cuộc sống của chính mình. Người tín hữu sẽ trở thành ánh sáng, sẽ biểu hiện một cuộc sống gương mẫu "để mọi người ngợi khen cha của anh em, đấng ngự trên trời" (Mt 5,16) qua việc phục vụ tận tình như dấu chỉ Nước Trời đang hình thành và với thái độ chấp nhận hi sinh dấn thân cho Chân lý.
Hai vị thánh Phêrô Dũng và Phêrô Thuần khi chấp nhận bản án thiêu sinh hơn là bỏ đạo, đã dùng chính thân thể mình làm ngọn đuốc sáng : Chấp nhận hủy diệt mạng sống hầu được sống trường tồn. Để rồi ngọn lửa rực sáng trong khoảng khắc ấy, mọi người sẽ thấy bừng lên ánh sáng Thần Linh của Thượng Đế, Đấng các vị làm chứng cho đến hơi thở cuối cùng.
Khó khăn thử thách
Ông Phêrô Đinh Văn Dũng (con ông Phê rô Mẫn và bà Maria An) và ông Phêrô Đinh Văn Thuần đều đã ngoài 60 tuổi, là anh em con chú con bác, người họ Đông Phú (nay là xứ Đông Phú) thuộc giáo xứ Trung Đồng, Kẻ Mèn, tỉnh Thái Bình trong giáo phận Trung Đàng Ngoài. Hai ông làm nghề đánh cá, một nghề như thánh Phê rô, bổn mạng hai ông đã từng làm. Riêng ông Phêrô thuần còn được chọn làm Lý trưởng nhờ tấm lòng cương trực và khả năng của mình. Là những giáo hữu bình dân chất phác và nhiệt thành, sau khi lập gia đình, hai ông đã tận tâm giáo dục con cái sống đạo cách sốt sắng theo tinh thần Phúc Âm.
Tháng 08-1861 với chiếu chỉ phân sáp của Vua Tự Đức, việc bách hại đạo gia tăng cách khủng khiếp nhất là trong giáo phận Trung. Các quan thi hành triệt để lệnh Vua, không những cho quân lính truy lùng các vị thừa sai, giám mục, linh mục, thầy giảng, mà còn cưỡng ép mọi giáo hữu bất kể nam phụ lão ấu đều phải chối đạo và bước qua Thánh Giá. Đất đai, vườn ruộng, nhà cửa, sức vật… của giáo hữu sau khi bị phân sáp đều bị tịch thu, phá hủy. Hơn nữa, giáo hữu còn bị khắc trên má hai chữ "Tả Đạo" để khỏi lẩn trốn. Quả thực, Giáo Hội Việt Nam đang phải chìm đắm trong những thử thách lớn lao.
Đầu năm 1862, thảm họa đã đổ xuống trên làng Đông Phú. Trong dịp này, hai ông Phêrô Dũng và Phêrô Thuần đã bị bắt và bị giải về phủ huyện, rồi bị tống giam vào ngục Ngọc Chi. Tại đây hai ông chịu nhiều cực hình, cổ mang gông, chân chịu xiềng xích, và nhiều lần quân lính đưa hai ông đến trình diện quan lớn, rồi bị cưỡng ép chà đạp Thánh Giá. Nhưng các ông vẫn nhất mực từ chối lời quan, và thẳng thắn tuyên xưng niềm tin của mình vào Đức Kitô.
Hai mẫu gương sống động
Các quan đã phải dùng đến phương sách tình cảm để mong khuất phục hai ông. Quan cho quân lính dẫn hai ông về thăm gia đình, gặp vợ con. Trước cảnh gông cùm xiềng xích của người chồng, người cha, cả hai gia đình đều nức nở khóc lóc buồn thương. Nhưng điều quan quân không ngờ được : Hai ông bình tĩnh an ủi và khích lệ vợ con hãy sẵn sàng chấp nhận việc dâng hiến của mình. Ông Phêrô Dũng nói : "Hãy vui mừng vì tôi được hy sinh mạng sống cho Đức Kitô".
Sau đó hai vị anh hùng bình thản trở về nhà tù sống chung với các chứng nhân khác.
Tháng 04-1862, các quan đầy hai ông ra làng Lương Mỹ, thuộc huyện Quỳnh (Côi) Phụ, tỉnh Thái Bình, và giam ở đó hai tháng. Trong hoàn cảnh này, ông Phêrô Thuần đã một lần thối chí và nghe lời quan đạp lên Thánh Giá. Thế nhưng sau khi gặp các bạn hữu, ông tìm được can đảm, tiếp tục tuyên xưng niềm tin cho đến chết, bất chấp mọi đòn vọt tra tấn.
Nhận thấy việc kéo dài thời gian giam giữ hai ông Phêrô Dũng và Phêrô Thuần cũng vô ích, các quan liền kết án thiêu sinh hai ông. Ngày 06-06-1862, quan cho nhốt hai chiến sỹ đức tin vào một chiếc cũi tre chật hẹp, rồi chất củi thiêu sống hai ông. Trong ngọn lửa phừng phực nóng bỏng, hai chứng nhân của Chúa Kitô chắp tay cầu nguyện, tạ ơn Chúa trong tâm tình hiến dâng mạng sống mình để nói lên niềm tin kiên vững vào Đấng Cứu Chuộc. Thi thể cháy đen của hai vị tử đạo được chôn cất ngay tại chỗ. Về sau, giáo dân đem an táng tại sân nhà thờ Đông Phú, quê hương của các ngài.
Cùng với 23 vị tử đạo khác tại Việt Nam, hai ông Phêrô Đinh Văn Dũng và Phêrô Đinh Văn Thuần đã được Đức Piô XII suy tôn lên bậc Chân Phước ngày 29-04-1951. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các ngài lên bậc Hiển thánh.
 
Thu thuế (1821 – 1862)
Thánh Vinh Sơn Phạm Văn Dương
Thanh Minh rạng rỡ Phạm Văn Dương,
Thu thuế, lòng dân chỗ dựa nương.
Đạo Chúa trung thành nên bị bắt,
Lệnh vua bất khẳng phải đăng đường.
Phương Viên chính quán hằng trung tín,
Mỹ Nhuế nhà giam vẫn quật cường.
Án tử thiêu sinh vui tận hiến,
Muôn đời đuốc sáng đặt cao gương.
 
Cuộc đời và gian khổ
Ông Vinh Sơn Dương sinh quán tại làng Phương Viên, thuộc xứ Kẻ Mèn, tỉnh Thái Bình, giáo phận Trung (nay là xứ Thanh Minh, giáo phận Thái Bình). Ông lập gia đình và sinh được ba người con. Ngoài việc canh tác ruộng nương như mọi người nông dân khác, ông còn giữ thêm chức vụ thu thuế trong làng nữa. Cũng vì chức vụ này ông bị "quan tâm đặc biệt" hơn các giáo hữu khác trong thời bách hại.
Trong vòng chỉ 15 năm, vua Tự Đức đã lần lượt ra đến tám chiếu chỉ cấm đạo ngày càng gay gắt, và rộng rãi hơn. Tháng 08-1861 với chiếu chỉ Phân sáp, nhà vua đã động viên cả guồng máy quan quân cho đến những người dân ác cảm với đạo. Khi cho phép quan quân và người ngoại giáo được tịch thu tài sản, cũng như bắt các tín hữu về làm đầy tớ trong nhà, nhà vua đã đẩy họ vào tình cảnh bi đát nhất chưa từng có. Thế nhưng nhà vua đã lầm. Những giáo hữu tầm thường nhất, dù chỉ còn hai bàn tay trắng vẫn giữ được trái tim sắt đá, vẫn đủ sáng suốt can đảm để không bao giờ tuân lệnh độc đoán của nhà vua.
Khoảng cuối tháng 09-1861, ông Vinh Sơn Dương cùng với nhiều giáo hữu khác bị bắt và bị phân sáp vào làng Mỹ Nhuệ, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Suốt chín tháng bị giam giữ tại đây với bao hình khổ dữ dằn, bao sỉ nhục mắng nhiếc, ông Vinh Sơn Dương đã vui vẻ chấp nhận tất cả để giữ lòng trung tín với Chúa Giêsu, quyết không chà đạp lên Thánh Giá.
Ánh lửa tỏa khắp năm châu
Cuối cùng, ngày 06-06-1862, ông Vinh Sơn Dương đã lãnh bản án thiêu sinh. Sau giờ hành quyết, các giáo hữu đã chôn cất vị anh hùng đức tin ngay nơi lãnh phúc tử đạo. Ít lâu sau, thi hài ông Dương được cải táng và rước về mai táng tại nhà thờ thánh Vinh Sơn, nơi quê hương của Ngài, chính vợ ông, bà Anrê Tịnh, hiện diện trong ngày xử án, sau cũng đến làm chứng cho chồng với giáo quyền để lập hồ sơ phong thánh.
Thế là sau 18 thế kỷ của lịch sử Kitô Giáo, một người nông dân Việt Nam lại bị thiêu sống như hàng loạt các tín hữu thời sơ khai tại hý trường Rôma thời bạo chúa Nêrôn. Có điều ánh lửa thiêu đốt ông Vinh Sơn Dương không lịm tắt đi nơi vùng quê của đất nước Việt Nam, nhưng sẽ bừng lên tỏa sáng khắp năm châu.
Ngày 29-4-1951, danh xưng ông Vinh Sơn Dương trở lên bất diệt, khi Đức Piô XII long trọng suy tôn ông lên bậc Chân Phước tại Vương Cung Thánh Đường thánh Phêrô. Ngày 19-6-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.
Trong hiến chế Giáo hội, Công Đồng Vatican II gợi lên cho chúng ta những suy nghĩ mỗi khi chiêm ngưỡng mẫu gương chết vì đức tin đáng trân trọng :
"Khi tử đạo, người môn đệ đồng hóa với Thầy mình, đấng đã tình nguyện chấp nhận cái chết để cứu nhân độ thế… Giáo Hội coi việc tử đạo như một ân huệ lớn lao và là một bằng chứng cao cả về đức ái. Mặc dù chỉ một số ít được phúc tử vì đạo, nhưng tất cả mọi người đều phải sẵng sàng tuyên xưng Chúa Kitô trước mặt tha nhân và bước theo Ngài trên đường Thánh Giá giữa những cuộc bách hại không hề thiếu vắng trong Giáo Hội" (Số 42B).
Thầy giảng, dòng ba Đaminh - (1764- 1840)
Thánh Tôma Đào Đình Toán
Bao đời hiển quí tiếng Đào gia,
Thánh Toán trâm anh thoát nếp nhà.
Cần Phán, sinh thành, thơm đất mẹ,
Trung Linh, quản lý, sáng danh Cha.
Quan đe trước mặt lòng không núng,
Voi rống sau lưng chí chẳng nhoà.
Một dạ trung thành thân ngục rũ,
Xanh ngành vạn tuế khải hoàn ca.
Tuổi Già can đảm
Sau 13 ngày bị lột trần phơi nắng phơi sương, không một hạt cơm vào bụng, quân lính đem bày trước mặt tử tội một mâm cơm đầy thức ăn ngon và mời mọc. Thế nhưng cụ già 76 tuổi đó đã từ chối : "Nếu ăn mà phải xuất giáo, tôi không bao giờ ăn !"
Cụ già dũng cảm đó là thầy giảng Tôma Toán.
Sinh năm 1764 tại làng Cần Phán, tỉnh Thái Bình, Tôma Toán vừa là hội viên dòng ba Đaminh, vừa là thầy giảng có uy tín làm nhiệm vụ truyền giáo ở Trung Linh. Nhà dòng giao cho thầy chức phụ tá quản lý nhà chung tại đây. Thời Minh Mạng bách hại, thầy Toán là cánh tay phải đắc lực của cha già Tuyên trong việc tông đồ.
 Sa ngã và thống hối
Trong làng Trung Linh có ông lang Tư, vì ham tiền thưởng tố cáo với quan phủ Xuân Trường rằng làng có đạo trưởng, nên ngày 16.12.1839, quân lính đến càn quét lục sóat làng này. Cha Già Tuyên may mắn trốn xuống hầm nên thoát nạn. Thầy Toán không kịp lẩn tránh, bị điệu ra trình diện. Thầy khai tên là Thi và ngồi chung với dân làng. Nhưng do sự chỉ điểm của ông lang Tư, quân lính tiến về phía thầy, kéo khăn trên trán ra và tri hô lên : "Tên này sói đầu đúng là đạo trưởng đây". Về sau chúng biết thầy không phải là Linh mục, nhưng vì tội không chịu xuất giáo nên vẫn bắt giam thầy.
Cuộc tử đạo của thầy Toán được ghi dấu bằng hai lần chối đạo :
Lần thứ nhất, sau một tháng bị tra khảo, ngày 19.01.1840 thầy đã nhát sợ bước qua Thánh Giá. Thế nhưng Tổng đốc Trịnh Quang Khanh vẫn chưa tha cho thầy về ngay, còn muốn thử xem thầy có thật lòng bỏ đạo không. Khi lính đưa thầy già về ngục, cha Giuse Hiển đã ân cần nhủ khuyên thầy thống hối và tiếp tục tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa.
Lần thứ hai, ngày 18.04, quan Trịnh Quang Khanh bắt hai người đã xuất giáo đến xúi giục thầy Toán, và dọa nếu không thành công sẽ giết cả hai. Những người này năn nỉ khóc lóc xin thầy thương kẻo họ bị chết, và họ nói nhiều lời phạm đến Chúa và Đức Mẹ suốt hai ngày liền. Để họ khỏi phạm thượng, thầy Toán một lần nữa lại bước qua Thánh Giá. Lần này thấy mình quá dại dột để bị đánh lừa, thầy thống hối khóc lóc đêm ngày không ai ngăn cản được. 15 ngày sau, cha Đaminh Trạch bị bắt cũng được dẫn tới giam chung một ngục, cha an ủi và giải tội cho thầy. Từ đây thầy trở thành một con người mới, đủ sức đương đầu cách phi thường với những thử thách nặng nề hơn trước.
 Không gì lay chuyển
Ngày 09.05, trước khi xử chém cha Giuse Hiển, thầy Toán cũng bị đưa ra tòa với cha. Sau khi hai vị cương quết không đạp lên Thập Giá, quan cho quản tượng lùa hai thớt voi đến sau lưng húc xô hai vị. Thầy Toán và cha Hiển bình tĩnh cố tránh qua một bên, nhất định không bước qua Thập Giá. Trịnh Quang Khanh tức giận truyền đưa thầy già về ngục, và lệnh đưa vị linh mục ra pháp trường xử chém tức khắc.
Một hôm viên quan khôi hài nói với lính : "Dẫn lão Toán ra đây để nó bước qua Thập tự, kẻo nó quên". Nhưng ông hoàn toàn thất vọng, người chiến sĩ đức tin lần này gan dạ lạ lùng, dù bị tra tấn dã man, thầy vẫn một lòng trung thành với đạo Chúa. Sau một trận đòn tưởng chết, quân lính lôi thầy bước qua Thánh Giá, thầy liền vùng dậy quỳ phục xuống đọc kinh Ăn Năn Tội, quan giận dữ cho giam thầy nơi khác, bắt nhịn ăn, nhịn khát, và cho lính muốn bày trò hành khổ gì tùy ý.
Thế là quân lính liền lột hết quần áo thầy, buộc hai Thánh Giá nhỏ vào hai bàn chân, bắt phơi nắng 13 ngày liền không được ăn uống gì cả. Trong khi đó, chúng vây quanh trêu chọc thầy : bứt râu giựt tóc, nhéo tai, vuốt mũi… Khi thấy thầy rơi vào tình trạng đói cực độ, người như lả đi, quan Trịnh Quang Khanh âm mưu cho dọn một mâm cơm rượu thịt thơm ngon và nói : "Ăn đi, rồi bước qua Thập tự". Nhưng vị anh hùng đức tin thà chết đói hơn là phải bỏ đạo, thầy nói : "Nếu ăn mà phải xuất giáo, tôi không bao giờ ăn cả". Quan tức mình tống giam, bắt thầy nhịn đói thêm năm ngày nữa cho chết rũ tù. Có người lính canh tên Thám tội nghiệp, ngấm ngầm tiếp tế đôi chút, nhưng rồi anh bị phát hiện và bị quan trừng phạt.
 Cho tới hơi thở cuối cùng
Từ đó thầy già Toán phải chịu đói khát hoàn toàn cho đến khi ngã gục và tắt hơi thở trong tù ngày 27.06.1840. Thi hài thầy Toán được chôn cùng với xác tù nhân. Bẩy tháng sau, anh Dậu cải lên an táng tại Lục Thủy chung với nhiều vị tử đạo khác.
Đức Lêo XIII suy tôn thầy Tôma Toán lên bậc Chân Phước ngày 27.5.1900. Ngày 19-6-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

 

Linh mục (1766-1838)
 
Thánh Phêrô Nguyễn Bá Tuần
Nêu cao trách nhiệm của người chăn,
Có Chúa lo gì nỗi khó khăn.
Bản quán Ngọc Đồng trui luyện chí,
Lác Môn trị sở sá gì thân.
Cùm lim, xích sắt không e ngại,
Phúc đức, ân thiêng vẫn ngập tràn.
Án trảm chờ mong hoài rũ ngục,
Cao giương vạn tuế Nguyễn Bá Tuần.
 
 Nụ hôn của Giuda
Được cha xứ Kim Sơn tin cậy gửi gấm hai linh mục, Bát Biên kín đáo giấu hai vị trong nhà, một tuần sau, ông nói với hai cha : "Con nghe tin quan biết hai cha ẩn ở đây và quan quân sắp đến vây làng. Con phải đem hai cha đi nơi khác an toàn hơn". Rồi Bát Biên mời linh mục thừa sai Fernandez Hiền xuống một chiếc thuyền nhỏ chở đi. Lát sau lại trở về đón cha Phêrô Tuần.
Xuống thuyền đi trốn, hai cha hoàn toàn tin lời Bát Biên, chẳng ngờ chút nào sự săn sóc ân cần đó lại chính là "cái hôn của Giuđa".
Âm mưu bắt hai cha của Bát Biên thành công thật êm thắm. Những nụ hôn bao giờ mà chẳng nhẹ nhàng êm ái ! Và đàng sau nụ hôn đó, tù ngục, tra tấn, cái chết đang chờ đợi hai cha.
Phêrô Nguyễn Bá Tuần chào đời năm 1766 tại làng Ngọc Đồng, tỉnh Hưng Yên. Tử thuở bé, cậu Tuần đã có tiếng là hiền lành, đạo đức, chăm chỉ học hành. Lớn lên, cậu vào sống trong nhà Chúa, tại đây cậu siêng năn học giáo lý, đồng thời học thêm chữ Hán. Thấy dấu chỉ có ơn kêu gọi, các linh mục giới thiệu cậu vào chủng viện. Nhưng mới theo học tại trường Latin ít lâu, Vua Cảnh Thịnh ra chiếu chỉ cấm đạo, thầy Phêrô phải nghỉ học và ẩn trốn nơi này nơi khác cùng với cha chính Hoan (Gatillepa). Thầy tỏ ra là một đệ tử đắc lực của ngài. May mắn thay, một thời gian sau, trường được mở lại, thầy Tuần trở về tiếp tục học hành và được lãnh chức linh mục năm 1807. Cha Tuần đã thi hành tác vụ thánh tại nhiều nơi, thu hái nhiều kết quả, được các bề trên hài lòng suốt 30 năm.
Giá trả về niềm tin
Năm 1838, khi vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo gắt gao hơn thì cha Tuần đang làm chánh xứ Lác Môn, tỉnh Nam Định. Cha không chỉ lo chu toàn trách vụ giáo xứ của mình, nhưng cha còn lưu tâm đến tình hình Giáo hội Việt Nam, lo đến các anh em linh mục. Nghe tin làng Quần Liêu sợ vạ lây, không muốn chấp nhận cha chính Fernandez Hiền bị bệnh kiết lỵ trầm trọng đang chữa tại đây nữa, cha Tuần phải vội vàng đến can thiệp và ở lại để dân chúng yên tâm giúp đỡ cha chính. Không ngờ nghĩa cử yêu thương này đã nối kết số phận đời cha với vị thừa sai Âu Châu.
Sau vài ngày, hai cha bỏ Quần Liêu trốn lên Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, thuộc giáo phận Tây Đàng Ngoài. Nhưng tại đây quan quân cũng đang tầm nã gắt gao, các tín hữu bắt buộc phải giấu hai cha ngoài bãi sình lầy, suốt hai ngày nắng sương gió rét. Khi đó, cha xứ Kim Sơn cho tìm một người ngoại đạo tên là Bát Biên, người thọ ân ngài nhiều lần và gởi gấm tạm hai vị mục tử. Ở đây, trước khi được làm chứng cho niềm tin vào Thiên Chúa, hai cha đã phải trả giá cho niềm tin vào con người. Bát Biên trở mặt nộp hai linh mục cho quan Tổng Đốc Nam Định Trịnh Quang Khanh. Thế là hai cha bị đóng gông giam vào ngục.
Trong tù, vị linh mục già 72 tuổi, luôn can đảm trung thành với đức tin của mình, dù thân thể già nua ốm yếu phải chịu gông cùm xiềng xích với biết bao đòn vọt. Khi viên quan nói với cha : "Lão già quá rồi, không chịu nổi các hình khổ đâu". Cha Tuần trả lời : "Quả thực tôi ốm yếu già nua, nhưng Thiên Chúa sẽ cho tôi sức mạnh để đón nhận mọi cực hình và cả cái chết vì Ngài". Lần khác, quan cho một tín hữu đã bỏ đạo ra đạp lên thánh giá và bảo cha làm theo như vậy, cha liền nói: "Sao tôi lại phải bắt chước kẻ bội giáo? Mẫu gương tôi soi là hai Đức cha của tôi, tôi muốn noi gương các đấng ấy". (Cha Tuần muốn nói đến Đức cha Henares Minh và Delgado Y, tử đạo ngày 26.06 và 12.07).
Rũ tù trong vinh phúc
Pháp luật thời đó không cho phép xử chém người già trên 60 tuổi. Thế nhưng ngày 18.07.1838, vua Minh Mạng vẫn phê án xử trảm cha Tuần. Bản án "vi hiến" đó đã không bao giờ thi hành được. Các hình khổ trong tù : tra tấn, đánh đập, đói khát, nóng nực và muỗi rệp, cuối cùng đã làm thay công việc của lý hình. Trước đó ba ngày cha Tuần đã hoàn tất cuộc đời làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa ngay trong nhà tù, tức ngày 15.07.1838.
Con đường tử đạo của cha không kết thúc đẫm máu, không có những bi kịch thảm thương. Một con đường khá bình thường, được dệt nên bằng những việc quen thuộc mà nhiều người khác có thể từng gặp trong đời: một người anh em mắc bệnh, một người phản bội vô tâm, đòn vọt, rệp muỗi... Nhưng "trên từng cây số" con đường đó, cha đã đi thật đúng đắn, thật trung thành, thật trọn vẹn. Cha đã tận tình lo cho người anh em gặp hoạn nạn. Cha đã hết sức tin vào con người, dù có thể gặp phải kẻ phản bội. Cha đã sống trọn vẹn niềm tin của mình trong những hoàn cảnh khó khăn, mới thoạt nhìn qua như có vẻ bình thường, nhưng vì dai dẳng nên cái bình thường đó không kém phần gay go.
Lòng trung thành trong những "việc nhỏ" như thế, đáng được coi là trung thành trong những "việc lớn". Lòng trung thành đó đã đưa cha đến phúc tử đạo dù không đổ máu. Cha được về quê trời ngày 15.7.1838 trong khi đã sẵn sàng bước ra pháp trường lấy máu mình minh chứng niềm tin. Giáo hữu rước thi hài cha về an táng tại nhà thờ xứ Ngọc Đồng, sau đem vào Nam đặt tôn kính tại xứ Lạc An, Biên Hòa.
Đức Lêo XIII suy tôn chân phước linh mục Phêrô Nguyễn Bá Tuần ngày 27.5.1900. Ngày 19-6-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.

 

Linh mục (1758 – 1838)
 
Thánh Giuse Đặng Đình Viên
Sáu lá thư vàng viết gửi qua,
Vua quan bốc giận đốc quân tra.
Sân chơi, mến Chúa, khôn lời nói,
Vườn mía, thương người, vội bước ra.
Sói dữ ra tay vang họng thét,
Chiên lành nạp mạng chẳng kêu ca.
Tiên Chu rạng tiếng người anh dũng,
Thánh Đặng Đình Viên phúc chói loà.
 
 Noi gương Đấng chăn chiên lành
Đang trốn trong vườn mía, linh mục Đặng Đình Viên bỗng bàng hoàng nghe tiếng kêu thảm thiết của đứa bé con người chủ nhà đã cho cha trú ẩn. Thì ra, quan quân đang tra hỏi để cậu bé chỉ chỗ cha ẩn trốn.
"Giêsu, Maria, cứu con với !" Quả là chua xót khi nghe thấy tiếng kêu la đau đớn trong cung giọng ngây thơ đó ! Cha Viên có thể chịu nổi những tiếng kêu xé lòng đứt ruột đó không ? Làm chủ chiên phải sẵn sàng phục vụ đàn chiên. Nếu vì sứ vụ, cha đã phải trốn tránh quan quyền thì lúc này đây, cũng chính sứ vụ đó thúc đẩy cha phải ra mặt để cứu đứa trẻ. Cha bước ra khỏi khu vườn mía kín đáo và nói : "Tôi là đạo trưởng Viên các anh đang tìm bắt đây. Xin đừng làm khổ đứa trẻ này nữa".
 Tuổi xanh và lý tưởng
Giuse Đặng Đình Viên còn có tên là Lương. Sinh năm 1785 tại làng Tiên Chu, Hồng Nam, thành phố Hưng Yên. Khi còn nhỏ, cậu sống và học hành ở họ Vân, Huyện Ân Thi là quê ngoại của cậu. Khi cha mẹ qua đời, cậu Viên theo giúp các linh mục thừa sai, nên được vào chủng viện.
Năm 1821, thầy Viên thụ phong linh mục và coi sóc giáo hữu làng Lục Thủy, tỉnh Nam Định.
Hai năm sau, cha được cử đi giảng đạo ở Bắc Ninh, giúp các xứ Đông Bài, Thiết Nham, Như Thiết, An Mỹ. Suốt 17 năm thi hành sứ vụ linh mục, cha Viên nổi tiếng là linh mục đạo đức, siêng năng đối với mọi công việc, làm sáng danh Chúa, cha được mọi người nhận biết và yêu mến.
Ngày 17.4.1838, thầy giảng Vũ văn Lân được cha cử đi lãnh dầu thứ Năm Tuần Thánh bị bắt cùng với sáu bức thư của cha gởi cho hai Đức cha và bốn linh mục khác. Các quan định giấu nhẹm sáu bức thư này đi, nhưng Tổng đốc Trịnh Quang Khanh lại đem về khoe với vua Minh Mạng. Vua liền thịnh nộ cho rằng quan phía Bắc bao che cho tà đạo và dọa truất chức quan Trịnh Quang Khanh nếu không bắt được người gởi thư và những người được thư gởi đến. Tuần phủ Hưng Yên là Hà Thúc Lương được lệnh bằng mọi giá phải bắt cha Viên, nếu không phải chịu tội thay.
Không ngờ chỉ một chút bất cẩn, những lá thư của cha Viên đã là nguyên nhân một chiến dịch bách hại đẫm máu tại Nam Định và Hưng Yên. Hai Đức cha Delgado Y và Henarez Minh, cha Chính Hiền và bao vị tử đạo, chưa kể những tổn thất về cơ sở và việc xáo trộn mọi sinh hoạt tôn giáo ở các giáo xứ.
Tất cả vì con chiên
Tại Hưng Yên, quan quân lục soát khắp nơi mà vẫn không bắt được cha Viên. Các quan phải dùng mọi mưu : họ giả mạo thư của gia đình cha và mua chuộc hai người bà con với cha cũng là người Công giáo, cầm thư để đi tìm người chỉ chỗ cha trốn.
Ngày 01.8,1838, sau khi biết chắc được cha đang trốn ở họ Cầu Chay, xứ Như Thiết, quan cho lính đến vây bắt, nhưng cha đã kịp thời chạy vào khu vườn mía rậm rạp. Éo le thay, các quan quân tức giận vì bắt hụt cha, đã dùng mưu đồ bắt ngay đứa con trai chủ nhà mà cha đang ẩn ra tra khảo. Chính sự đau đớn và tiếng kêu la thảm khốc của cậu bé đã làm cha xúc động và ra trình diện. Thế là cha đã cho em không phải một bát nước lã, mà là chính bản thân của cha. Hành vi cao thượng đó chắc chắn đã do từ tấm gương tuyệt vời của Đấng chấp nhận hy sinh chính mạng sống để cứu độ nhân loại.
Phúc vinh tử đạo
Tại tỉnh Hưng Yên, các quan bắt cha Viên dịch các bức thư của cha đã bị tịch thu trước đây ra tiếng Việt. Đến khi thấy các thư đó không có gì là bí mật hay âm mưu cả, họ liền khuyên cha chối đạo để tha về, cha Viên cương quyết trả lời : "Dù có chết tôi cũng không quá khóa. Tôi là đạo trưởng mà quá khóa thì ai theo đạo nữa ?". Ngày 03.8, các quan gởi án về kinh xin xử trảm. Ngày 21.8, án lệnh về đến tỉnh. Các quan cố thuyết phục cha lần cuối nhưng vô hiệu, nên tuyên đọc bản án và đem thi hành ngay hôm đó. Thẻ bài của cha ghi như sau:
"Đạo trưởng Đặng Đình Viên, tùng gian tà đạo, liên lạc đạo trưởng Tây Nam, tụ tập đạo đồ, đạo chủng, đạo thư, bất khẳng quá khóa, vi phạm quốc pháp, luật hình trảm quyết".
Dịch là : "Linh mục Đặng Đình Viên theo đạo tà, liên lạc với các linh mục Tây và Việt, tụ tập giáo dân, chủng sinh, tích trữ sách đạo, không chịu bước qua thập giá, vi phạm luật nước, luật xử phải chém"
Trên đường ra pháp trường Ba Tòa, cha Viên sung sướng cảm động tạ ơn Chúa. Khi đó hai người họ hàng đã tiết lộ chỗ cha ẩn đến xin cha tha thứ. Cha nhân từ nói: "Cha tha cho các con…". Cũng như Chúa Giêsu trước giây phút cuối cùng trên Thập Giá sẵn sàng tha thứ cho kẻ làm hại và giết Ngài, giờ đây cha Viên vui mừng ban lời thứ tha cho hai người nộp mình.
Sau khi ăn chút cơm, cha Viên quỳ trên chiếc chăn bông được trải sẵn, ngửa mặt lên trời cầu nguyện. Giờ hành xử đã đến, lý hình vung gươm, đưa vị chứng nhân Đức Kitô đầy lòng trắc ẩn lên đài vinh quang tử đạo. Các tín hữu ùa vào thấm máu vị tử đạo. Một người lính thấy vậy liền lấy áo Ngài cắt ra bán cho họ nữa. Hôm đó là ngày 21 tháng 8 năm 1838. Thi hài cha đã được khoảng 300 tín hữu rước long trọng về an táng tại nhà thờ Tiên Chu.
Đức Lêo XIII suy tôn cha Giuse Đặng Đình Viên lên hàng Chân Phước ngày 27.5.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.

 

Linh mục dòng Đaminh (1786 – 1839)
 
Thánh Đaminh Nguyễn Văn Xuyên
Cha Xuyên vượt thắng cảnh gian lao,
Nhắc nhủ con chiên giữ đạo màu.
Phạm Pháo nơi đầu lo coi sóc,
Thanh Minh họ mới liệu lập sau.
Tù đầy khổ tấn luôn bền đỗ,
Án Trảm gia hình vẫn chẳng nao.
Phương Cáp hân hoan quê vị thánh,
Noi gương sáng chói phúc nhường bao.
 
Những vần thơ lục bát do thánh Đaminh Xuyên sáng tác trong ngục tù:
Ai ơi giữ lấy túi khôn,
Đầy tràn tin cậy đầy lòng mến yêu.
Gươm đao đe đọa dẫu nhiều,
Quỷ ma cám dỗ sớm chiều đe loi.
Ai mà thắng được trên đời,
Mai sau hưởng phúc cõi trời cao sang.
 vừa diễn tả tâm tình của mình vừa khuyên nhủ các tín hữu đến thăm. Những vần thơ ngắn gọn nhưng cô đọng trọn vẹn triết lý sống của các vị tử đạo, lòng tràn đầy niềm tin yêu vượt qua mọi gian khổ để chiếm đoạt vinh quang nước trời.
Tấm lòng người tu sĩ áo trắng
Đaminh Nguyễn Văn Xuyên còn có tên là Doãn, sinh năm 1786 tại họ Tân Mỹ, xứ Nguyệt Lãng (Hiệp Hoà, Vũ Thư, tỉnh Thái Bình). Thấy con có trí thông minh, cha mẹ cho cậu đi học chữ Nho, rồi gửi gấm cậu cho Đức cha Delgado Y dạy bảo. Được Đức cha nhắc nhở, cậu Xuyên chăm chỉ học hành, nhất là học giỏi giáo lý. Lớn lên, ngài cho anh vào chủng viện, và trao ban chức linh mục năm 1819. Ngày 20.4 năm sau, cha Xuyên tuyên khấn trong dòng thánh Đaminh. Từ đó, cha rất nhiệt thành phục vụ các giáo hữu, không ngừng đi nhiều nơi giảng tĩnh tâm, dạy giáo lý và sốt sắng cử hành phụng vụ bí tích.
Trước tiên, cha Xuyên coi xứ Phạm Pháo, tỉnh Nam Định, rồi về xứ Kẻ Mèn, Thái Bình trong ba năm. Tại đây, ngài lập họ đạo mới, họ Thanh Minh, chọn thánh Vinh sơn làm bổn mạng. Sau cha phụ trách xứ Đông Xuyên  (Kiến An) 13 năm. Thời gian này dân chúng bị hạn hán mất mùa nhiều năm, và bị giặc Phan Bá Vành quấy phá nên đói nghèo khổ sở. Có lần cha phải dốc cạn túi để giúp đỡ họ, có lần cha nhường phần cơm của mình… Bao giờ cha cũng để một ngân khoản riêng làm việc bác ái, từ thiện.
Cuối năm 1836, cha được bổ nhiệm làm phụ tá cha Fernandez Hiền tại chủng viện Ninh Cường giữa lúc cuộc bách hại của vua Minh Mạng gay gắt. Năm sau cha về làm quản lý giáo phận Đông Đàng Ngài, giúp Đức cha Delgado Y. khi Đức cha phải lưu lạc về Kiên Lao rồi bị bắt thì cha Xuyên vừa tìm chỗ ẩn trốn, vừa giúp xứ Hạ Linh. Tuy phải lang thang nay nhà này mai nhà khác, cha cũng phục vụ các tín hữu ở đây được khoảng một năm. Ngày 18.8.1839, cha đến cử hành lễ mừng thánh Gioakim, bổn mạng họ Phú Đường (họ lẻ xứ Hạ Linh) thì bị bắt. Một giáo viên trước có dạy ở Bùi Chu biết mặt cha đã đi báo quan kiếm tiền thưởng.
 Bền trí trung kiên…
Cha Xuyên dâng lễ gần xong, nghe tiếng loa gọi của quân lính, cha vội rước hết Mình Thánh rồi cởi áo lễ đi trốn. Nhưng không kịp nữa, quân lính đã tóm bắt cha và dẫn đến quan phủ. Quan phủ cười hỏi: "Đưa đây một số bạc, ta tha cho về". Cha trả lời: "Tôi chẳng có đồng nào trong người, nếu quan tha tôi cám ơn, nếu quan bắt tôi xin chịu". Về sau giáo hữu Hạ Linh góp tiền đem đến chuộc, nhưng quan phủ không dám thả nữa vì trên tỉnh đã biết.
Khi nghe thuật lại chuyện, cha Xuyên an ủi họ : "Anh em hãy để tiền lo cho giáo xứ thì hơn, đừng tốn tiền chuộc tôi làm chi vô ích. Ý Chúa đã muốn, chẳng ai làm khác được. Anh em cứ bình an về nhà, nhớ cầu nguyện cho tôi chịu sự khó cho nên". Thế rồi cha mang gông nặng theo lính về Nam Định.
Biết cha là quản lý tòa Giám mục, Tổng đốc Trịnh Quang Khanh không những bắt cha bỏ đạo mà còn muốn khai thác các tài sản giáo phận. Lần đầu tiên khi ra lệnh đánh đòn, Tổng đốc đứng ngay bên thúc giục: "Đánh nữa, mạnh lên cho đến khi nó chịu khai và xuất giáo". Người chiến sĩ đức tin chỉ biết kêu tên cực trọng "Giêsu, Maria, xin cứu con !", cho đến khi bất tỉnh phải khiêng về ngục.
Những lần sau ngài cố gắng cắn răng chịu đựng không kêu một tiếng, cũng chẳng tiết lộ điều gì về giáo phận. Quan tổng đốc cho dùng những cực hình dã man hơn : lấy sắt nung đỏ dí vào cháy từng miếng thịt, cầm kìm nguội, kẹp hay cắt nhiều chỗ trên thân thể … Nhưng cha can đảm gắng sức nói thẳng với quan: "Dù sống dù chết, tôi cũng không bỏ đạo. Tôi chọn cái chết để sống đời đời, hơn là nghe quan sống thêm ít lâu mà muôn đời bị tiêu diệt".
Nhiều lần quá đau đớn ngất xỉu giữa cuộc tra tấn. Sợ vị quản lý giáo phận chết sớm, Tổng đốc sai lính đưa cha về ngục, cho mời lang y chữa trị để mong biết được những tài sản mà ông tưởng là vô số. Đến khi cha Xuyên bình phục, quan lại đưa ra khảo nữa, nhưng ông phải thất vọng vì thực sự giáo phận chẳng có gì để khai, mặt khác, chẳng bao giờ cha chịu khuất phục bỏ đạo.
Phần thưởng nước trời
Ngày 25.10, quan Tổng đốc lập bản án trảm quyết gởi về kinh đô. Tháng sau bản án của cha Xuyên và cha Dụ trở lại Nam Định. Những ngày cuối, hai cha được giam chung một phòng, tay bắt mặt mừng, xưng tội với nhau, an ủi khích lệ nhau vững chí đến cùng.
Ngày 26.11.1839, hai cha bị dẫn đi xử. Giữa đám quân lính đông đảo võ trang voi ngựa, hai vị chứng nhân Đức Kitô đi bộ mang gông, nhưng bình tĩnh vui vẻ, vừa đi vừa cầu nguyện cho tới pháp trường Bảy Mẫu. Dân chúng đi xem đều bỡ ngỡ thán phục. Quan hỏi lại lần chót có muốn xuất giáo để được tha không. Hai vị trả lời: "Không", rồi đưa tay cho lính trói vào cọc đã chôn sẵn.
Hai nhát gươm cùng vung lên, hai tôi tớ Chúa được lãnh triều thiên tử đạo tiến thẳng về Trời. Cha Xuyên với 53 tuổi đời, phục vụ Chúa trong chức vụ linh mục được 20 năm. Thi thể ngài được an táng ngay tại đó. Tháng giêng năm 1841, tín hữu cải táng hài cốt ngài về Lục Thủy.
Đức Lêo XIII suy tôn cha Đaminh Nuyễn Văn Xuyên, linh mục dòng Thuyết giáo lên bậc Chân Phước ngày 27.5.1900. Ngày 19-6-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.
Thầy Giảng dòng ba Đaminh (1832 – 1861)
Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang
Thầy giảng hăng say Nguyễn Duy Khang,
Hải Dương, thứ bốn thánh danh vang.
Đức cha tín cẩn cho phòng bộ,
Kẻ Mốt tin giao chức trưởng tràng.
Lính bố thuyền nan, sào nắm chắc,
Quan dần thịt nát, chí hiên ngang.
Trường hình Năm Mẫu gươm vừa xuống,
Đẹp đất Trà Vy, sáng đạo vàng.
 
Một môn sinh trung thành
Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang được các tín hữu Việt Nam tôn kính trong số bốn thánh tử đạo Hải Dương. Tuy thánh nhân tử đạo sau hơn một tháng, nhưng vẫn được chung vinh dự với linh mục Almate Bình, hai Giám mục Valentinô Vinh và Hemosilla Liêm, vì đã cùng đồng lao khổ với ba vị huynh trưởng đó trong dòng Đaminh.
Là người trợ tá của Giám mục Hemosilla Liêm, thầy Giuse Khang đã theo sát gương cha chung của giáo phận Đông Đàng Ngoài trong những ngày lưu lạc. Rồi khi quân lính vây bắt Đức cha thì với nhiệt tâm của thánh Phêrô tông đồ xưa trong vườn cây dầu, thầy định dùng võ lực để chống cự. Nhưng sau cùng, thầy đã nghe lời của vị mà mình muốn bảo vệ. Thầy chấp nhận bị bắt để làm chứng cho điều cao thượng hơn : Làm chứng cho tình thương, cho lòng nhân ái và thứ tha của Tin Mừng.
Một tu sĩ đạo đức
Giuse Nguyễn Duy Khang chào đời năm 1832, tại xứ Trà Vi, Vũ Công, Kiến Xương, Thái Bình. Cha mẹ cậu là những giáo hữu đạo đức, hướng dẫn các con vào đời sống đạo ngay từ nhỏ. Nhưng cha cậu đã sớm qua đời, cậu được mẹ săm sóc tận tình. Bà lo liệu cho cậu được học hành, gợi cho cậu ý muốn hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa và gởi cậu vào nhà Đức Chúa Trời giúp việc cho cha Matthêu Năng dòng Đaminh.
Sau mười năm sống với vị linh mục lão thành thánh thiện này, cậu Giuse Khang được cha gửi vào chủng viện Kẻ Mốt để học tiếng Latinh, chuẩn bị cho sứ vụ linh mục tương lai. Giai đoạn này thầy Giuse Khang xin gia nhập dòng ba Đaminh, và được anh em tín nhiệm bầu làm trưởng tràng điều hành mọi công việc trong nhà như lao động, nấu ăn, liên lạc với các bề trên. Mặc dù bận rộn, thầy Khang vẫn nêu gương sáng cho anh em trong việc học hành và kỷ luật. Những ai đã tiếp xúc với thầy đều nói thầy đạo đức, có tính cương trực, nhưng lại luôn luôn hòa nhã với hết thảy mọi người.
Khi đó, Đức cha Hemosilla Liêm cũng ở Kẻ Mốt đã tín nhiệm thầy cách đặc biệt và chọn thầy làm người phụ tá riêng. Thầy Khang vui vẻ phục vụ Đức cha cách tận tình : từ việc dọn bàn thờ, sắp xếp các hồ sơ, sao chép các hồ sơ luân lưu, cho đến công tác cơm nước, liên lạc. Có lần thầy còn đào hang trú ẩn cho hai cha nữa.
 Mẫu gương can đảm
Giáo Hội Việt Nam lúc ấy đang trong tình trạng bị bách hại khốc liệt, dưới thời vua Tự Đức. Để tiêu diệt hết đạo Gia Tô trong cả nước, nhà vua ban hành chiếu chỉ phân sáp ngày 05.8.1861. Theo chiếu chỉ đó, mọi tín hữu Gia Tô già trẻ lớn nhỏ, nam nữ đều bị phân tán vào các làng ngoại giáo. Các tín hữu bị khắc chữ trên má, gia đình bị phân chia, vợ một nơi, chồng một nẻo, con cái mỗi đứa một miền. Các thánh đường, nhà chung, tài sản của giáo hữu bị tịch thu, bị chia chác hay phá hủy.
Trong bối cảnh đó, ngày 18.9.1861, Đức cha Hemosilla Liêm vô cùng đau đớn khi phải quyết định giải tán chủng viện Kẻ Mốt. Linh mục Khoa, đại diện ngài nói với các chủng sinh: "Anh em khỏi chào Đức cha, kẻo ngài không cầm nổi nước mắt". Riêng thầy Khang nhất quyết xin và được chọn để đi theo Đức cha cho tới cùng. Khi giã từ các bạn, thầy nói nửa đùa nửa thật: "Tôi nhất định theo Đức cha, các quan có bắt ngài, ắt sẽ chẳng tha tôi. Đức cha chết vì đạo, tôi cũng chết theo, mất đầu còn chân sợ gì". Từ đêm đó, hai cha con bắt đầu sống lưu lạc. Tương lai tuy mờ mịt, nhưng thầy Khang vẫn vui tươi nhờ lòng tin tưởng phó thác và tâm tình hiến dâng mạng sống nếu Chúa muốn.
Ba tuần lễ đầu, thầy Khang cùng với Đức cha sống trong hang trú ẩn ở Thọ Ninh. Nhưng quan quân đã phát hiện nơi ẩn đó, nên hai cha con phải bỏ đất liền, xuống một thuyền đánh cá. Thầy Khang chèo thuyền qua thị xã Hải Dương đến tá túc trên thuyền của một giáo hữu tên Bính. Chính nơi đây đã thành "Tòa Giám mục lưu động" của vị chủ chăn. Được vài ngày, hai vị tình cờ gặp Đức cha Valentinô Vinh và linh mục Almatô Bình đi thuyền từ Kẻ Nê xuống. Thật là cuộc gặp gỡ vô cùng cảm động và vui mừng của bốn thánh tử đạo Hải Dương. Các vị tạ ơn Chúa vì cơ may đặc biệt này, trao đổi tin tức và cùng nhau cầu nguyện cho Giáo Hội. Đến sáng, các vị chia tay mỗi thuyền đi một ngả.
Một hôm gia đình Trương Bính xảy ra cuộc cãi lộn. Người con trai tức giận với cha mẹ nên tố cáo ông bà chứa chấp đạo trưởng. Thế là đội Bảng liền đem gia nhân đến bắt Đức cha. Thấy họ tới nơi, thầy Khang liền nhổ cây sào chống thuyền và chạy đến đứng chắn trước mặt họ như muốn ngầm bảo : phải bước qua xác tôi, rồi muốn bắt ai thì bắt.
Nhưng vị Giám mục khả kính và nhân ái đã đến nắm lấy vai thầy, ngài nói: "Đừng làm gì hại họ, hãy phó mặc cho ý Chúa". Thầy Khang ngỡ ngàng quay lại nhìn người cha già và chợt hiểu ra ý ngài, thầy chỉ nói được một lời : "Thưa vâng", rồi bỏ sào tre xuống đưa tay cho lính trói. Lính giải hai vị vào thành Hải Dương và giam mỗi vị một nơi.
 Vị tử đạo Hải Dương
Một tháng rưỡi trong tù, thầy Khang được sống chung với một số giáo hữu. Thầy liền tổ chức cho cả phòng giam đọc kinh chung mỗi ngày ba lần, và mỗi tối làm việc thống hối đền tội để chuẩn bị đón nhận phúc tử đạo. Trong thời gian này, thầy bị đưa ra tòa tra tấn ba lần, bị đánh đòn khắp hai bên mông. Lần nào thầy cũng can đảm chịu đựng, không hề tiết lộ bất cứ chi tiết nào về hàng giáo sĩ, không chịu bỏ đạo như các quan yêu cầu. Sau mỗi trận đòn, các giáo hữu trong ngục đều nấu nước rửa và xoa bóp cho thầy dịu bớt cơn đau.
Đặc biệt ở trong tù, thầy Khang vẫn tiếp tục viết thư cho các bạn học đang lưu lạc ở làng Hảo Hội. Một lá thư thầy viết : "Các quan mới tra tấn tôi một kỳ để hỏi Đức cha đã ở những đâu, song tôi chẳng trả lời, trái lại vui lòng chịu đòn. Xin anh em cầu nguyện cho tôi".
Trong lá thư khác thầy viết : "Anh em cho tôi một cái quần, vì quần tôi cũ, phải đòn nhiều đã rách nát. Cũng xin gửi cho tôi một cái khăn để khi tôi chết, có cái mà liệm xác đem chôn".
Ngày 06.12.1861, thầy Giuse Khang được nghe bản án trảm quyết ở kinh đô gửi ra, thầy vui vẻ theo lịnh ra pháp trường Năm Mẫu, nơi đã thấm máu người cha kính yêu của thầy ngày 01.11 trước đó. sau khi bị chém đầu, dân chúng địa phương an táng thi thể ngay ở ngoài ruộng.
Năm 1867, theo lệnh của Đức cha Hy, thầy cai Hinh, anh ruột của vị tử đạo đã dời hài cốt em của mình về nhà nguyện Kẻ Mốt.
Ngày 20.5.1906, Đức Thánh Cha Piô X suy tôn thầy Giuse Nguyễn Duy Khang lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.
 
Chứng tá tập thể trong lao tù
Tôma NGUYỄN VĂN ĐỆ
Phanxicô Xaviê HÀ TRỌNG MẬU
Augustinô NGUYỄN VĂN MỚI
Đaminh BÙI VĂN ÚY
Stêphanô NGUYỄN VĂN VINH
Đọc truyện các thánh tử đạo Việt Nam, không ai có thể quên được chứng tá tập thể của hai thầy giảng và ba giáo dân ở trong tù. Năm vị cùng bị giam chung với cha Tự và ông trùm Cảnh, nhưng hai vị này tử đạo trước (05-09-1838). Dù sống trong ngược đãi, dù bị kiểm soát gắt gao, năm vị đã gắn bó với nhau trong tình anh em thân thiết, cùng sống đức tin kiên vững và nỗ lực làm chứng cho Thiên Chúa, bằng lời nói, gương sáng và chính mạng sống mình.
 
Thợ may dòng Ba Đaminh (1811 - 1838)
 
Thánh Tôma Nguyễn Văn Đệ
Thánh Đệ hiên ngang chứng đạo trời,
Thợ may nổi tiếng khắp nơi nơi.
Dây đo thước vạch đường công chính,
Kéo cắt kim thâu thói ác đời.
Mũi chỉ thêu thêm lòng mến Chúa,
Đường khâu đính mãi đức yêu người.
Ba mươi lập nghiệp toà cao sáng,
Kẻ Bái, Bồ Trang phúc đức tươi.
 
Hai mươi tám tuổi đời, một người vợ ba người con, đó là mối ưu tư trăn trở của anh Tôma Đệ trong những ngày bị giam cầm. Không thể bỏ đức tin, nhưng tương lai của người vợ trẻ và đàn con dại sẽ ra sao ?… Trong nhiều ngày anh suy nghĩ và tha thiết cầu nguyện xin Chúa soi sáng. Cuối cùng anh tìm được an bình trong tâm hồn, phó thác tất cả trong bàn tay Chúa quan phòng. Anh nói với người vợ đến thăm:
"Đừng khóc mình ạ ! Mình hãy về dãy dỗ các con nên người, dạy chúng thờ phượng Chúa. Tôi đã dâng mình và các con cho Ngài. Nhớ cầu xin Chúa cho tôi được thêm sức mạnh để nhẫn lại đến cùng".
Ra đời trong một gia đình Công Giáo tại làng Bồ Trang, xứ Bồ Ngọc, Thái Bình năm 1811, Tôma Nguyễn Văn Đệ vì lý do sinh kế, theo cha mẹ về xứ Kẻ Mốt (Bắc Ninh), và ở ngay gần nhà thờ. Lớn lên anh theo nghề thợ may và được mọi người yêu chuộng. Anh rất nhiệt tình với công việc trong xứ trong họ. Hầu hết cờ quạt, đồ trang hoàng trong nhà thờ và nhà xứ đều nhờ đến bàn tay khéo léo và sáng tạo của anh. Khi kinh tế gia đình ổn định, anh lập gia đình, ra ở riêng và sinh hạ được ba người con.
Ngày 29.6.1830, quân lính vây làng Kẻ Mốt, và ép buộc mọi người trên 18 tuổi phải đạp lên Thánh Giá, anh lẩn trốn ra phía sau nhà. Đến khi quân lính xồng xộc vào nhà lùng bắt, anh biết mình không thể tránh được nữa, liền giã từ vợ, dặn đưa con về bên ngoại, ôm hôn từng đứa, rồi ra trình diện. Đến trước Thánh Giá, anh Đệ quỳ xuống cầu nguyện lớn rằng "Lạy Chúa! sẽ không bao giờ con bước qua mặt Ngài".
Quân lính áp giải anh Tôma Đệ cùng với cha Tự, ông Trùm Cảnh, hai thầy Uy, Mậu và anh Mới, Vinh về giam tại Bắc Ninh.
 
Thầy giảng dòng Ba Đaminh (1790-1839)
 
Thánh Phanxicô Xaviê Hà Trọng Mậu
Duyên Lãng - Kẻ Diền chốn quê sinh,
Tu thân, Thánh Mậu dốc tâm tình.
Chuyên cần trách nhiệm nơi Roi Nội,
Chu đáo lo toan ngục Bắc Ninh.
Hướng dẫn lương dân tin đạo Chúa,
Khuyên răn giáo hữu giữ đường lành.
Giảo hình tận hiến gò Cổ Mễ,
Vạn tuế tươi ngành, phúc hiển vinh.
 
Thầy Phanxicô Xaviê Mậu không những phải chọn lựa giữa cái chết và cuộc sống, thầy còn phải chọn lựa giữa cái chết và việc làm quan triều đình. Không một chút lưỡng lự, thầy trả lời vị tổng đốc : "Tôi không ham chức quyền tôi chỉ muốn chết vì đạo".
Phanxicô Xaviê Hà Trọng Mậu cất tiếng chào đời năm 1740 tại làng Kẻ Diền, tỉnh Thái Bình. Cậu được cha mẹ cho đi tu, trở thành thầy giảng và đi giúp nhiều giáo xứ. Khi cha Phêrô Tự bị bắt, thầy Mậu đang coi họ Nội, thuộc xứ Kẻ Mốt, được tin cha và thầy Úy được đưa về Lương Tài, thầy Mậu đến đó nghe ngóng tin tức. Giáo hữu gởi thầy ở trọ một nhà lương dân bên kia sông vì nghĩ rằng lính sẽ không khám xét đến. Ai ngờ chính người chủ nhà đi báo cho quan kiếm tiền thưởng, thế là thầy bị bắt.
Thầy bị dẫn đến dinh quan Lương Tài, có mặt cha Tự ở đó. Quan hỏi thầy là ai thầy đáp : "Thưa quan tôi là một môn đệ thân tín của cha đây". Cha Tự ra dấu nhắc thầy đừng khai rõ, may ra có thể chuộc về được chăng, nhưng thầy nói nhỏ với cha : "Xin cha thương nhận con làm môn sinh, để con cũng được tử đạo với cha".
Kể từ ngày ông Trùm và ông trùm Cảnh bị đem đi xử trảm, thầy Mậu trở thành cột trụ nâng đỡ bốn người còn sót lại, là thầy Úy, các anh Mới, Vinh, Đệ. Thầy nhắc anh em sống huynh đệ, an ủi giúp đỡ nhau. Thầy đại diện anh em viết thư ra ngoài, hoặc trả lời các quan. Đặc biệt thầy động viên anh em hăng hái làm việc tông đồ ngay trong nhà tù. Trong hồ sơ phong thánh, cha Huấn dựa vào các thơ của thầy làm chứng rằng : "Thầy Mậu vẫn dạy giáo lý cho các tù nhân, và rửa tội được 44 người, trong đó có một tử tội tên Hưng, mới học đạo một tháng thì bị xử, anh xin quan hoãn lại ít giờ để rửa tội, sau đó vui vẻ tiến ra pháp trường."
Khi quan nói : "Kẻ nào chết vì không bước qua Thập Giá là ngu dại, không biết thương cha mẹ già". Thầy giải thích : "Thưa quan cha mẹ sinh ra chúng tôi có ở trên đời cũng là nhờ quyền năng Chúa". Khi quan quân tuyên đọc bản án xử tử, thầy bình tĩnh đáp lại : "Thưa quan chúng tôi mong ước về với Chúa, như nai mong tìm thấy suối vậy. Xin quan cứ thi hành án lệnh của Đức Vua."
 
Nông dân dòng Ba Đaminh  (1806 – 1839)
 
Thánh Augustino Nguyễn Văn Mới
Ơn trên chói lọi toả non sông,
Thánh Mới Bồ Trang hết dạ trung.
Kẻ Mốt nương mình khi tại thế,
Phương Mao táng xác lúc lâm chung.
Linh hồn thử thách, tin càng vững,
Thể xác gian nan, chí vẫn hùng.
Hiển Thánh gương lành nay chiếu sáng,
Danh thơm rạng rỡ khắp trời đông.
 
Tuy là một tân tòng mới theo đạo, anh Augustinô Mới đã biểu lộ một đức tin kiên cường, không thua kém gì những kitô hữu vững tin nhất.
Augustinô Nguyễn Văn Mới sinh năm 1806, tại làng Bồ Trang, xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, trong một gia đình nông dân ngoại giáo. Đến tuổi trưởng thành, anh đến làng Đức Trai, xứ Kẻ Mốt (Bắc Ninh) để làm mướn. Tiếp xúc với giáo hữu ở đây, càng ngày anh càng thấy mến đạo, và xin theo học giáo lý. Năm 31 tuổi, anh được cha Tự rửa tội và đặt tên thánh bổn mạng là Augustinô.
Mấy năm sau, cha Tự cũng chủ sự lễ thành hôn cho anh với một thiếu nữ trong xứ. Theo các lời chứng trong hồ sơ phong thánh, anh Augustinô Mới sống đạo rất tốt, đặc biệt là đọc kinh Mân Côi mỗi tối. Dù có ngày lao động vất vả đến mãi khuya mới về, anh cũng không quên đọc kinh Mân Côi kính Đức Mẹ.
Ngày 19.6,1838, khi quân lính bao vây làng Kẻ Mốt và bắt cha Tự, họ buộc tòan dân phải ra đình điểm danh, rồi bước qua Thánh Giá. Một số tín hữu nhanh chân lẩn tránh được, một số nhát gan thực hiện yêu cầu các lính. Các anh Mới, Vinh và Đệ cương quyết không chịu đạp lên Thánh Giá, nên bị bắt và bị áp giải chung với cha tự, ông Trùm Cảnh và hai thầy Úy, Mậu, lên giam tại Bắc Ninh.
 
 
Thầy giảng dòng Ba Đaminh (1812-1839)
 
Thánh Đaminh Bùi Văn Uý
Quê hương phúc đức họ Tiền Môn,
Thánh Uý tin yêu hết trí khôn.
Ninh Thái chung tù luôn vững dạ,
Đức Trai giúp xứ hết tâm hồn.
Mừng vui chết bởi danh Thiên Chúa,
Phấn khởi về bên Đấng chí tôn.
Thầy giảng trung thành gương chiếu giãi,
Minh châu rực rỡ phúc trường tồn.
 
 
"Nếu tôi cả gan bước qua Thánh Giá thì tôi xúc phạm đến Chúa và bất hiếu với cha mẹ. Vì song thân sinh ra tôi đã dạy tôi trung thành với niềm tin cho đến chết."
Thầy Đaminh Úy đã đặt trọn niềm tin của mình trong truyền thống tiên tổ. Không biết cha mẹ căn dặn thầy trung kiên dù phải tử đạo vào lúc nào, khi mới có cuộc bách hại hay khi vào thăm trong tù ? Nhưng rõ rệt là với thầy, phản bội đức tin là phản bội lại những người đã nhọc công vun trồng niềm tin cho mình.
Đaminh Bùi Văn Úy sinh năm 1812 tại họ Tiền Môn, làng Kẻ Rèm, (xứ Tây Làng) tỉnh Thái Bình . Từ bé cậu đã được gia đình gởi vào nhà xứ sống với cha Tự. Sau khi học thành thầy giảng, thầy luôn hoạt động bên cha tại xứ Kẻ Đanh rồi Kẻ Mốt (Bắc Ninh) và bị bắt, lúc đó thầy mới 26 tuổi. Bất cứ ai gặp thầy Úy đều công nhận thầy hiền lành có lòng yêu mến Chúa, đặc biệt là người trợ thủ đắc lực của cha Tự trong công tác, nhất là khi cuộc bách hại của vua Minh Mạng bùng nổ. Ước mơ lớn nhất của thầy là được đóng vai "Lê Lai thế mạng" để cha Tự khỏi bị bắt. Khi đào hang trú ẩn, thầy đào hai ngăn rồi tình nguyện ở ngăn bên ngoài.
Thầy nói với mọi người : "Nếu các quan đến truy lùng, tôi sẽ ra trước nộp mình để cha khỏi bị bắt, hầu cha có thể giúp anh chị em".
Ngày 29-6-1838, lính đến vây làng Kẻ Mốt, đã bắt thầy Úy chung với cha Tự. Cha dự định khai thầy chỉ là giáo hữu vào làm bếp để đỡ nguy hiểm, nhưng thầy nói : "Xin cha cứ nói con là thầy giảng, may ra con cũng được phúc tử đạo với cha".
Rồi thầy xin xưng tội để chuẩn bị tâm hồn. Một lần tương kế tựu kế quan nói với ngài : "Cha Tự xuất giáo rồi sao anh còn cố chấp thế ?" Thầy bình tĩnh trả lời : "Vô lý cha tôi không bao giờ làm như vậy, mà dù có thực thế tôi không bao giờ xuất giáo đâu".
Lần khác quan như muốn dạy khôn thầy : "Anh còn trẻ hãy nghĩ lại và khôn ngoan một chút, ta chỉ yêu cầu anh bước qua một khúc gỗ mà". Thầy Úy đáp : "Đúng là khúc gỗ thưa quan, nhưng khúc gỗ đó tượng trưng cho Chúa tôi thờ. Quan nghĩ sao nếu tôi đạp lên ảnh vẽ hình cha mẹ tôi?".
Hôm khác khi bị dụ dỗ bước qua Thánh Giá, thầy khẳng khái nói : "Thưa quan có giám bước qua mặt Đức Vua không, mà lại bảo tôi bước qua mặt Chúa tôi được?".
Quan nghiêm nghị phán : "Tên phạm thượng ta sẽ chém đầu mi". Người chiến sĩ đức tin vui vẻ reo lên : "Anh em ơi, tôi sắp được chém đầu rồi". Nhưng phúc trường sinh đến với thầy không quá mau như vậy.
 
Tá điền, dòng Ba Đaminh (1813 – 1839)
 
Thánh Stêphanô Nguyễn Văn Vinh
Trời đông rạng rỡ ánh bình minh,
Hiển thánh vang lừng Nguyễn Văn Vinh.
Cổ Mễ trường hình vui chịu giảo,
Hương La đất lạ nghỉ an bình.
Ngày xưa chiến đấu nơi trần thế,
Kiếp tại huy hoàng chốn vĩnh sinh.
Thế giới cao rao niềm ngưỡng mộ,
Đồng hương xứ Bái thảo chân tình.
 
Thánh Stêphanô Vinh là một trường hợp hy hữu, trong danh mục các thánh tử đạo Việt Nam. Khi bị bắt, anh mới chỉ là dự tòng chưa được rửa tội. Nhưng với những hiểu biết ít ỏi về đạo, anh đã kiên trì làm chứng cho chân lý. Mặc dù khi vào tù anh mới chính thức gia nhập đạo, rồi thành hội viên dòng ba Đaminh, nhưng anh không thua kém ai về lòng can đảm tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa.
Stêphanô Nguyễn văn Vinh sinh năm 1813 tại làng Bồ Trang, tỉnh Thái Bình. Sống trong một gia đình ngoại giáo rất nghèo, một miếng đất cũng không có, anh Vinh quanh năm phải làm thuê làm mướn cho các gia đình ở Kẻ Mốt (Bắc Ninh). Trường học duy nhất anh ham thích và theo được là các lớp giáo lý, nơi anh tập đánh vần và học truyền khẩu. Đặc biệt anh đem các điều học ở đó ra thực hành trong cuộc sống. Có điều là người ta không biết vì sao anh chưa được rửa tội. Mọi người đều mến thương anh vì anh đơn sơ, chất phác, khỏe mạnh và thật thà. Trong công việc, anh không bao giờ làm cho qua lần chiếu lệ, ai thuê việc gì, anh cũng chu toàn tốt đẹp không cần kiểm soát, không có gì chê trách. Cho đến khi bị bắt, anh vẫn độc thân chưa lập gia đình.
Ngày 29.6.1838, khi quan quân vây bắt cha Tự ở Kẻ Mốt, và bắt mọi người phải đạp lên Thánh Giá, chàng thanh niên 25 tuổi này đã anh dũng nói thẳng với họ rằng : "Tôi thà chết chứ không bao giờ chịu đạp lên Thánh Giá, vì tôi biết đạo Chúa Giêsu là đạo thật".
Vì lời này, quan quân tưởng anh là người trong đạo, thế là họ bắt anh Vinh và áp giải về trại giam Bắc Ninh chung với cha Tự, ông Trùm Cảnh, thầy Úy, thầy Mậu, và hai anh Mới, Đệ. Chính tại đây, anh Vinh được diễm phúc làm người Kitô hữu, được hân hạnh là con Cha Thánh Đaminh. Suốt hành trình tử đạo, anh là một nhân chứng trầm lặng, nhưng cùng lập trường với các vị khác. Gông cùm, xiềng xích và tra tấn không lần nào có thể làm anh sa ngã hay nản chí. Chọn quan thầy Stêphanô trong tù, anh cương quyết noi theo vị tử đạo tiên khởi của Giáo Hội đến hơi thở cuối cùng.
***
 
Lời an ủi ấm lòng…
Sau gần một tháng dọa nạt tra khảo bảy chiến sĩ đức tin nhưng vô hiệu, ngày 27.7.1838, quan tỉnh Bắc Ninh đệ án vào triều xin xử giảo cha Tự và ông Trùm cảnh, còn năm vị kia quan cho là nhẹ dạ tin theo, nên xin đánh mỗi người 100 roi rồi phát lưu vào Bình Định. Luật vua thời đó xử giảo các phù thủy, đồng cốt, còn những kẻ a dua chỉ bị đánh đòn và phát lưu 300 dặm. Thế nhưng vua Minh Mạng cho rằng tội theo đạo Gia Tô thuộc loại nặng hơn, nên quyết định xử chém hai vị trên ngay tức khắc, còn tất cả sẽ bị xử giảo sau một năm nếu không chịu thay đổi ý kiến.
Ngày 05.9.1838, khi biết tin cha Phêrô Tự và ông Trùm Cảnh đã bị chém tại pháp trường Kinh Bắc, năm vị trong ngục buồn bã nhớ thương. Thầy Mậu kêu gọi anh em ngồi lại bên nhau cùng đọc kinh, vừa khích lệ nhau, vừa ôn lại những lời khuyên của cha mình. sau đó ba buổi tối, như chính các vị thuật lại, trong lúc họ đang cầu nguyện thì bất ngờ tất cả đều thấy như cha Tự hiện ra ngay bên an ủi họ : "Các con đừng buồn, chắc chắn các con sẽ được chết vì đạo. Tuy nhiên, các con sẽ phải qua một thời gian thử thách nữa, để xứng đáng với phúc trọng này". Có thể đó chỉ là giấc mơ chứ không phải sự thật, cũng có thể đó là lời nhắn nhủ cuối cùng của vị linh mục, nhưng kể từ ngày đó, họ hết sầu buồn, tìm lại được can đảm để nêu gương ngay trong cảnh quẫn bách ở trong trại giam.
Làm chứng trước quan quyền
Thấm thoát hơn một năm tù đã trôi qua, triều đình quyết định lại việc xử giảo cả năm người. Ngày 19.8.1839, quan cho điệu tất cả ra tòa, vẫn Thánh Giá một bên, bên kia là dụng cụ tra tấn. Quan hỏi : "Các anh bị giam cầm đã lâu ngày, chịu khổ cũng đã nhiều, vậy bỏ đạo đi, ta tha về với vợ con". Thầy Mậu đại diện anh em trả lời : "Chúng tôi đã quyết tâm trung thành với Chúa, nên quan ra lệnh chém đầu hay giết cách nào khác, chúng tôi đều sẵn sàng".
Rồi cả năm vị quỳ xuống bái lạy Thánh Giá và cầu nguyện : "Lạy Chúa ! Xin cứu chúng con, con xin phó thác hồn con trong tay Chúa".
Thất vọng, quan cho lính đưa tất cả về ngục và thốt lên: "Bọn này không thể tha thứ được, mà chúng có thèm được tha đâu !".
Ngày 24.11.1839, năm vị phải ra tòa một lần nữa. Quang cảnh vẫn như lần trước, và các tôi tớ Chúa vẫn một mực cương quyết không chối đạo. Thầy Mậu thay mặt anh em nói với quan : "Chúng tôi chỉ tôn thờ một Thiên Chúa là Cha chung muôn loài, là vua trên hết các vua, là Đấng chúng tôi mong được đổ máu ra để chứng tỏ lòng trung thành và yêu mến".
Như rừng mong mỏi tìm về suối nước trong…
Ngày 19.12.1839, trước khi đi xử, quan cho năm vị một cơ hội cuối cùng. Ông nói : "Chỉ cần đi ngang qua phía chân tượng, ta cũng tha". Sau đó, ông lại nói : "Chỉ cần đi vòng quanh tượng ta cũng tha". Nhưng các chứng nhân đức tin không để bị mắc lừa, họ bảo nhau quỳ xuống đọc kinh Kính Danh Chúa Giêsu. Có lẽ do ảnh hưởng những lời kinh Giáo Hội trong mùa Vọng, đón chờ Chúa giáng sinh, thầy Mậu nói với quan những lời kinh Thánh Vịnh 41 (c1-2) : "Thưa quan, chúng tôi ước mong về với Chúa như nai mong tìm thấy suối vậy. Xin quan cứ thi hành án lệnh của nhà vua".
Biết không thể làm nao núng ý chí sắt đá của những con người này được nữa, quan liền truyền đem đi xử với bản án như sau : "Bọn gian ác theo Gia Tô tả đạo, mặc dầu đã khuyên răn sửa phạt, vẫn ngoan cố không chịu bước qua Thập Tự, nay chúng bị xử giảo".
Trên đường ra pháp trường, thầy Mậu rảo chân bước đi trước, cha anh em bước theo sau, tất cả đều tỏ ra hân hoan kiên cường. Dân chúng hiếu kỳ xem rất đông và xì xào với nhau là các vị này bị giết oan. Theo gương thầy Mậu, các chứng nhân tươi cười nói với mọi người : "Anh em chúng tôi đang tiến về Thiên Đàng đây".
Khi tới nơi xử, mỗi vị bị trói vào một cọc đã chôn sẵn. Rồi cùng một lúc lý hình xiết cổ các vị bằng dây thừng cho đến lúc tắt thở. Các tín hữu đem thi thể các vị về an táng tại họ đạo mình. Thánh Mậu ở Kẻ La, thánh Úy ở Đồng Tiến, thánh Mới ở Phượng Vĩ, thánh Đệ ở Phong Cốc và thánh Vinh ở Hương La, tất cả đều thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 27.5.1900, Đức Lêo XIII đã suy tôn năm vị anh hùng tử đạo : Tôma Nguyễn Văn Đệ, Phanxicô Xavie Hà Trọng Mậu, Augustinô Nguyễn Văn Mới, Đaminh Bùi Văn Úy và Stêphanô Nguyễn Văn Vinh lên bậc Chân Phước. Ngày 19-6-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các ngài lên hàng Hiển thánh.
 
 
 
----------------------------------------------
Note.Ban soạn thảo tài liệu học hỏi sẽ cố gắng sớm nhất có bản giúp tìm hiểu và học tài liệu này dưới dạng câu hỏi và thưa.
Khi có bản hỏi thưa ấy các cha có thể khuyến khích mọi thành phần Dân Chúa trong các giáo xứ giáo họ đọc và học tuỳ theo điều kiện thực tế tốt nhất. Ví dụ: đọc chung mỗi tối mấy câu trước hoặc sau giờ kinh chung hay trước giờ lễ ….; hoặc thêm vào trong các giờ giáo lý…

Các cha khuyến khích mọi người tạo điều kiện đọc và học biết về những điều sứ điệp … về gia đình giáo phận và về các gương chứng nhân đức tin của cha ông chúng ta để sống thực tế hơn trong đời sống đạo đầy thử thách ngày nay.

Nguồn tin: http://giaophanthaibinh.org

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: tài liệu

Những tin mới hơn

 

Đăng nhập thành viên

Video

 
 

Liên kết website

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Giáo Phận Thái Bình
Giáo Xứ Cao Mại
Giáo Xứ Hoàng Xá
Giáo Xứ Bồng Tiên

Giới thiệu

Giới thiệu Website Giáo Xứ Trung Đồng

THÔNG TIN GIỚI THIỆU TRANG WEBSITE GIÁO XỨ TRUNG ĐỒNG              Ban truyền thông giáo xứ Trung Đồng xin gửi tới các thành viên trang Web cùng toàn thể Quí Vị Độc giả thân yêu lời chào chân thành và trân trọng nhất.           ...