06:39 ICT Chủ nhật, 19/08/2018

Menu

Mặt trước giáo xứ Trung Đồng
Linh mục Nguyễn Văn Thao

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 19


Hôm nayHôm nay : 936

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 54196

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7393869

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Giáo xứ Trung Đồng?

Rất rõ.

Rõ.

Một ít.

Không biết gì.

Trang nhất » Tin Tức » Giáo xứ Trung Đồng

Giáp Tư Nhà Xứ Trung Đồng Mừng Lễ Thánh Quan Thầy

Thứ hai - 16/07/2018 11:45
Giáp Tư Nhà Xứ Trung Đồng Mừng Kính Lễ Thánh Anê Lê Thị Thành (bà thánh Đê) Quan Thầy bổn mạng

Vào lúc 16 giờ, Chúa Nhật, ngày 15/07/2018, Cha xứ cùng toàn thể cộng đoàn giáo xứ Trung Đồng đã cung nghinh kiệu tượng Thánh Anê Lê Thị Thành quanh khuôn viên sau đài Đức Mẹ vô nhiễm vào nhà thờ. Cha xứ dâng Thánh lễ mừng kính Ngài; cầu nguyện cho các bậc tiền nhân, ân nhân, thân nhân của giáo xứ nói chung, cách riêng cộng đoàn giáo giáp Tư.

Bà Anê Lê Thị Thành sinh năm 1781 tại làng Gia Miếu (cũng gọi là Bái Điền), huyện Yên Định, Thanh Hóa trong một gia đình theo đạo Công giáo. Vì mưu sinh nên ngay từ khi bà còn nhỏ, gia đình bà đã chuyển về sống tại quê ngoại ở làng Phúc Nhạc, nay thuộc Phát Diệm, Ninh Bình. Bà là một thiếu nữ rất ngoan ngoãn, nết na, được nhiều người trong xóm đạo nhận xét là ngoan hiền, đạo đức. Mỗi ngày sáng và tối bà lên nhà thờ để đọc kinh, cầu nguyện. Bà còn phụ mẹ têm trầu để bán. Năm 16 tuổi, mẹ bà mất. Năm 19 tuổi, bà kết hôn với ông Nguyễn Văn Nhất, cũng là một thanh niên Công giáo ngoan đạo. Hai ông bà rất thuận hòa với nhau, kiếm sống bằng nghề làm ruộng, nuôi tằm. Dù cũng không dư giả gì, bà không bao giờ từ chối khi có người tới xin ăn. Hai ông bà sinh được sáu con: hai con trai tên Đê và Trân, bốn con gái tên Thu, Năm, Nhiên, Nụ. Tục lệ địa phương thời ấy thường gọi tên cha mẹ theo con trai cả nên bà cũng được biết đến với tên là bà Đê. Cho tới lúc qua đời, bà có tất cả 17 cháu trai và gái. Các con của ông bà Đê đều là những đứa trẻ ngoan ngoãn, lễ phép, được mọi người quý mến. Được như vậy là nhờ công quan tâm chăm sóc dạy dỗ của hai ông bà. Bà dạy các con học chữ, giáo lý, nhắc nhở chúng siêng năng đi lễ, xưng tội. Về đời sống gia đình của các con, bà chỉ cho phép các con gái kết hôn với những thanh niên đạo đức. Khi các con đã lập gia đình rồi, bà hay đến thăm, khuyên nhủ các con phải sống hòa thuận yêu thương nhau, không bao giờ được gây gổ và phải luôn vâng lời cha mẹ chồng.

Hoàn cảnh tử đạo Bà Anê Lê Thị Thành là người có lòng bác ái hay yêu thương giúp đỡ mọi người, nhất là các linh mục. Bà cùng chồng dành hẳn một khu nhà đặc biệt cho các linh mục trú ẩn. Thời ấy vua Thiệu Trị đang có chính sách cấm đạo, tội chứa chấp linh mục có thể bị chết. Lúc bấy giờ là tháng 3 năm 1841, có 4 linh mục đang hoạt động tại làng Phúc Nhạc gồm linh mục Berneux Nhân ở nhà ông Phaolô Thức, linh mục Galy Lý ở nhà ông Trùm Cơ, linh mục Thành ở nhà bà Đê và linh mục Ngân ở một nhà khác. Linh mục Thành có một người giúp việc tên Đễ. Người này vì tham tiền nên đã lén báo quan chỗ các linh mục đang ở. Sáng ngày 14 tháng 4 năm 1841, ngay lễ Phục Sinh, quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh cùng 500 lính ập xuống làng Phúc Nhạc. Quan lệnh tất cả mọi người trong làng phải tập trung ở một chỗ rồi cho lính đi lục soát từng nhà. Linh mục Thành và Ngân nhanh chân nên may mắn trốn thoát; linh mục Nhân vì sơ suất để lộ gấu áo trên gác nhà dòng Mến Thánh Giá nên, còn linh mục Lý thì được ông Cơ dẫn sang nhà bà Đê. Bà chỉ cho ông một chỗ trốn ở cái mương khô sau vườn cạnh bụi tre, rồi cùng con gái lấy rơm phủ lên. Không may quân lính cũng đã nhìn thấy ông vào nhà bà. Nhà của bà liền bị lục soát, mọi tài sản đều bị tịch thu, còn bản thân bà, linh mục Lý, ông Cơ và 2 nữ tu thì bị trói và đeo gông ra đình làng. Khi đó bà 60 tuổi. Lúc mới bị bắt bà rất sợ hãi, nhưng khi ra tới đình làng thì bà không còn có vẻ gì là sợ sệt nữa. Bà và những người bị bắt cùng phải đeo gông đi bộ suốt đêm từ Phúc Nhạc ra Nam Định. Vì tuổi già sức yếu, đường thì xa nên nhiều lần quân lính phải mang giúp. Khi ra công trường, quan bắt bà cùng hai nữ tu phải chối đạo nhưng cả ba đều nhất quyết không chịu. Quan truyền lệnh đánh, lúc đầu thì bằng roi, sau lấy củi lớn quật vào chân bà, vừa đánh vừa kéo bà qua Thánh Giá. Bà sấp mình xuống đất kêu lớn tiếng: “Lạy Chúa, xin thương giúp con, con không bao giờ muốn chối bỏ lòng tin Chúa, nhưng vì con là đàn bà yếu đuối, nên họ dùng sức mạnh để cưỡng bách con đạp lên Thập Giá” Không lay chuyển được niềm tin của bà, quan tống bà vào tù. Ở đó bà phải chịu đủ loại cực hình tra tấn, bị đánh đập tàn nhẫn, nhưng bà vẫn không thối chí, không bước qua Thánh Giá cũng như không khai chỗ trú ẩn của các linh mục khác. Quan bèn lệnh cho bỏ rắn độc vào người bà. Vì là thân đàn bà, bà rất sợ hãi, nhưng sau khi cầu nguyện lên Chúa, bà can đảm đứng yên nên rắn không cắn. Quan bực tức lại truyền đánh bà mạnh hơn trước. Về sau bà chia sẻ với chồng lúc ông vào thăm: “Họ đánh đập tôi vô cùng hung dữ, đến đàn ông chưa chắc đã chịu nổi, nhưng tôi được ơn Ðức Mẹ giúp sức, nên không cảm thấy đau đớn gì”. Bị nhốt cùng chung với bà có hai nữ tu dòng Mến Thánh Giá là Anna Khiêm và Anê Thanh. Hai dì cũng bị thả rắn vào áo, cốt để làm cho sợ mà khai ra chỗ ẩn trốn của các linh mục. Hai nữ tu này cũng đã thay nhau chăm sóc bà khi bà mắc chứng kiết lị vì điều kiện vệ sinh trong tù không tốt. Các linh mục cũng gởi thuốc cho bà và ban phép giải tội, xức dầu. Khi con gái vào thăm, thấy quần áo bà đầy máu liền òa khóc, bà ôn tồn bảo: "Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy, mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc?". Bà khuyên con nên về để sửa soạn việc nhà, sốt sắng giữ đạo, sáng tối đọc kinh và cầu nguyện cho bà đủ sức để vác Thánh Giá Chúa đến cùng. Cuối cùng, vì kiệt sức, bà qua đời vào ngày 12 tháng 7 năm 1841, hưởng thọ 61 tuổi. An táng và phong thánh Sửa đổi Sau khi bà mất, quan truyền cho quân lính đốt ngón chân bà theo thủ tục lúc bấy giờ để chắc chắn bà đã chết. Họ tẩm liệm xác bà rồi an táng tại pháp trường Bảy Mẫu. Khoảng sáu tháng sau, mọi người đi tìm lại mộ của bà. Tương truyền vì có quá nhiều mộ nên không biết mộ nào là đúng. Thế rồi có người nảy sinh ý tưởng cắm một cây tre vào mỗi ngôi mộ, cây tre nào vẫn còn xanh tốt giữa trưa hè nắng nóng chính là cây tre ngôi mộ của bà. Sau một thời gian, chỉ còn duy nhất một cây còn xanh tươi, đào lên thì thấy đúng là mộ bà Anê Lê Thị Thành. Việc này được kể là một trong những phép lạ trong hồ sơ phong thánh của bà. Lúc mở nắp quan tài, thân xác bà vẫn còn hồng hào y nguyên, chưa hư hại gì. Năm 1881, linh mục chánh xứ Phúc Nhạc đem thi hài bà cùng bảy vị tử đạo khác về an táng tại mồ riêng. Vào ngày 2 tháng 5 năm 1909 bà được Giáo hoàng Piô X phong Chân Phước. Sau đó vào ngày 19 tháng 6 năm 1988, cùng với 116 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam khác, Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong bà lên bậc Hiển Thánh. Và giáo hội cho tổ chức vào ngày 12/7 hằng năm để mừng kính ngài. 

Nguyện xin bà Thánh luôn cầu bầu cùng Chúa cho cộng đoàn giáo xứ nói chung, cách riêng với cộng đoàn giáo giáp Tư luôn được noi gương Thánh nhân.

Hình ảnh:
























































Nguồn tin: BTT GX

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Video

 
 

Liên kết website

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Giáo Phận Thái Bình
Giáo Xứ Cao Mại
Giáo Xứ Hoàng Xá
Giáo Xứ Bồng Tiên

Giới thiệu

Giới thiệu Website Giáo Xứ Trung Đồng

THÔNG TIN GIỚI THIỆU TRANG WEBSITE GIÁO XỨ TRUNG ĐỒNG              Ban truyền thông giáo xứ Trung Đồng xin gửi tới các thành viên trang Web cùng toàn thể Quí Vị Độc giả thân yêu lời chào chân thành và trân trọng nhất.           ...