23:30 ICT Thứ hai, 16/07/2018

Menu

Mặt trước giáo xứ Trung Đồng
Linh mục Nguyễn Văn Thao

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 27


Hôm nayHôm nay : 3368

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 44909

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7297422

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Giáo xứ Trung Đồng?

Rất rõ.

Rõ.

Một ít.

Không biết gì.

Trang nhất » Tin Tức » Thư viện tài liệu

Kinh Cầu Đức Bà

Chủ nhật - 26/05/2013 20:11
Là người công giáo, chúng ta thường khấn xin Mẹ Maria “cầu cho chúng con” trong Kinh Cầu Đức Bà; nhưng có lẽ, lịch sử hình thành Kinh Cầu Đức Bà thì ít người biết tới.
Ban truyền thông Giáo xứ xin trân trọng giới thiệu “Tài liệu của Học viện Pio X Đà Lạt” về lịch sử hình thành Kinh Cầu Đức Bà- những lời kinh rất đỗi quen thuộc với chúng ta.

TẠI SAO GỌI LÀ KINH CẦU

Tiếng “kinh” nguyên gốc Hán có nghĩa là sách (thí dụ Ngũ kinh, Thánh Kinh), rồi dần dần được mở rộng đến lời chép ở trong sách đó, nhất là những lời cầu nguyện. Từ đó ta có “sách kinh” nghĩa là sách chứa đựng những kinh nguyện. Tâm thức thường tình của con người đọc kinh là “mong ước, van xin” các vị thần linh điều gì đó, vì thế mà hai tiếng “kinh và cầu” thường đi liền với nhau. “Cầu” có nghĩa là tìm, kiếm, xin, mong, cậy, và đôi khi chúng ta cũng gặp thấy nó trong ngôn ngữ hằng ngày, như: cầu cứu, cầu hòa, cầu mong, cầu cạnh, cầu may, cầu tài. Do đó phải nói rằng kinh nào cũng là kinh cầu hết, chứ chẳng có kinh nào mà “không cầu”. Tuy nhiên, không rõ từ bao giờ, tại Việt Nam, người ta đã dành tiếng kinh cầu để dịch tiếng “litaniae” từ La ngữ. Có lẽ người ta đã dịch “litaniae” là kinh cầu là tại vì trong đó cứ lặp lại lời thưa “cầu cho chúng tôi” sau mỗi câu xướng. Thế nhưng điều này chỉ dành cho kinh cầu kính Đức Maria hay là các thánh, còn trong kinh cầu Kính Thánh Tâm thì lời thưa là “thương xót chúng tôi”. Xét theo nguyên ngữ, trước đây có người đã nghĩ rằng litaniae bởi động từ “litare” có nghĩa là: dâng một hy lễ cầu may. Nhưng ngày nay các học giả cho rằng litaniae gốc từ tiếng Hi Lạp “lité” có nghĩa là lời khẩn nài. Nhưng mà hình thức đặc biệt của litanie là các lời khẩn nài ấy được móc nối với nhau thành từng chuỗi theo hình thức đối đáp; nghĩa là một người (thí dụ ca viên) xướng lên một ý nguyện, cộng đoàn đáp lại với một lời cầu: “xin Chúa nghe lời chúng con, xin Chúa nhận lời chúng con” ; hoặc: “xin Chúa thương xót chúng con”. Hình thức cầu nguyện này rất cổ điển, và ta thấy dấu vết trong Thánh lễ ở phần nhập lễ (xin Chúa thương xót chúng con, xin chúa Kitô thương xót chúng con), hoặc ở phần lời nguyện giáo dân (xin Chúa nhậm lời chúng con); còn trong Phụng vụ giờ kinh, thì sau cộng đồng Vaticano II, người ta cũng đã tái lập hình thức các “lời cầu” (preces) ở cuối Giờ kinh sáng và kinh tối. Dần dần bên cạnh những lời khẩn cầu dâng lên Chúa (supplicationes), các tín hữu còn thêm những lời van xin (invocationes) hướng tới các thánh, người ta tuyên dương công nghiệp của các vị, và xin các vị cầu bầu cho mình. Rồi từ đó nảy ra Kinh Cầu Các Thánh, tuy cần thêm rằng trong Kinh Cầu Các Thánh xuất hiện từ thế kỷ 7 trở đi, thì chúng ta thấy người ta đã kết nạp cả hai phần: a/ một phần van xin, bằng cách kêu van các thánh trên trời (“cầu cho chúng tôi”), với danh sách các vị càng ngày càng dài ra; b/ phần thứ hai thì gồm bởi những lời khẩn cầu dâng lên Thiên Chúa, vì những mầu nhiệm cứu chuộc của Đức Kitô và công nghiệp của các thánh, thương cứu chữa Hội Thánh khỏi các tai ương (Xin chúa nhậm lời chúng con, xin Chúa cứu chữa chúng con, xin Chúa lắng nghe chúng con).   

Theo các sử gia, thì Kinh Cầu Đức Bà thoát thai từ Kinh Cầu Các. Thực vậy, thay vì xướng kinh “Thánh Maria, cầu cho chúng tôi” như vậy các vị thánh khác, thi các tín hữu kéo dài các tước hiệu của người ra: “Mẹ Chúa Trời, Mẹ Đồng Trinh”….Tới lúc mà người ta thấy rằng các tước hiệu ấy đủ làm thành một kinh cầu biệt lập (từ thế kỷ 12 trở đi). Từ thế kỉ 16 trở đi, con số các kinh cầu gia tăng, không những là với những hình thức khác nhau của kinh cầu các thánh hay Đức Bà, nhưng còn có những kinh cầu dành cho các mầu nhiệm Chúa Cứu Thế, kinh cầu thánh danh Chúa Giêsu, kinh cầu ông thánh nọ bà thánh kia. Dĩ nhiên, không thiếu người la hoán lên là “loạn kinh cầu”.Vì thế mà dưới thời Đức Giáo Hoàng Clemente VIII, Bộ Thánh vụ năm 1601 đã chặn lại hết các thứ kinh cầu, chỉ trừ kinh cầu các thánh và Kinh Cầu Đức Bà theo phương thức đã được phê chuẩn. Quyết định của đức Clemente VIII còn được Tòa thánh lập lại vào những năm 1927 (BenedictoXIII), 1757 (BenedictoXIV) và 1897. Tuy nhiên, nhiều giáo phận và dòng tu vẫn tiếp tục lưu hành hay soạn thêm kinh cầu, với danh nghĩa là đọc riêng tư. Tuy nhiên phải hiểu tiếng đọc riêng có nghĩa là không đọc chung ở nhà thờ chứ không có nghĩa là đọc chui, đọc lén. Chính vì vậy mà một số kinh cầu được quảng bá khá rộng rãi, và đã được Tòa thánh phê chuẩn: thí dụ kinh cầu thánh danh Chúa Giêsu (bị cấm năm 1640, sau đó được làm ngơ năm1862 và được chuẩn y năm 1886). Kinh cầu Thánh Tâm Chúa Giêsu đã ra đời dưới nhiều hình thức khác nhau ngay từ thế kỷ 17-18 sau khi Chúa hiện ra với thánh nữ Margarita Maria, nhưng chỉ được Đức Leo XIII châu phê vào năm 1899. Kinh cầu thánh Giuse được chuẩn y dưới thời đức PioX năm 1909.

Trước khi đi vào nội dung, nên lưu ý tới cầu nguyện từ ngữ: Tai sao lại gọi Đức Maria là Đức Bà? Trong tiếng việt, “bà” vừa có ý chỉ người phụ nữ nói chung (đàn ông, đàn bà), nhưng vừa dành riêng cho các phụ nữ cao niên (bà cụ, bà nội, bà ngoại). Thế thì tại sao lại gọi đức Maria là “Đức Bà” ? Thưa là tại vì dịch vụng về từ tiếng pháp “NotreDame”. Nên biết rằng trong xã hội cổ truyền, không phải tất cả các phụ nữ đều được gọi là “dame” tiếng Pháp (hay là “lady” tiếng Anh). Để gọi chung các bà, thì có tiếng jemme hay là woman. Còn “dame” ( hay “lady”) dành riêng cho các phụ nữ quý tộc: các mệnh phụ, phu nhân, công nương. Nó đối lại với ông hoàng, lãnh chúa (seigneur, lord). Sự đối chọi này còn rõ hơn nữa trong các tiếng Itali và Tây Ban Nha (Signre-signora; senor-senora). Đó là điều thứ nhất đáng ta lưu ý, trong các ngôn ngữ Âu châu, khi gọi đức Maria là Đức Bà thì người ta không có ý coi Người như một bà cụ đâu. Điều thứ hai: thế thì tại sao gọi Người là Notre Dame, Our Lady, Nostra Signora, Nuestra Senora? Tục lệ này ra đời từ thế kỷ thứ 13, bắt đầu từ tiếng Latinh “Domina nótra”. Chúng ta biết rằng đức tin công giáo đã tuyên xưng đức Kitô là “Chúa chúng tôi” (Dominus noster Jesus Christus), Đức Maria được đặt kề đó như là Domina Nostra, mà đã có người dịch ra tiếng Việt là “Chúa bà chúng tôi”. Theo các sử gia, khởi đầu tục lệ gọi Đức Maria là “Chúa Bà” không phải do một quan điểm thần học bàn về mối liên lạc giữa Đức Kitô với Mẹ Maria, nhưng chỉ là một phản ứng tập tục thời Trung cổ. Vào thời đó, người nông dân đến xin thần phục lãnh chúa để xin được bảo vệ che chở, có những thanh niên thì đăng ký làm hiệp sĩ để phục vụ đánh giặc cho một ông hoàng; nhưng có những chàng trai si tình hơn thì dâng hiến trái tim cho một tiểu thư mà họ coi là “nữ hoàng của lòng anh” (lẽ ra phải nói nữ hoàng của lòng em mới đúng). Một số Kitô hữu muốn bắt chước tục lệ đó, và cũng dâng trót con tim cho một nữ hoàng, nhưng không phải là một tiểu thư kiều diễm nào mà là chính Đức Maria. Vì thế mà họ trao tặng cho Người tước hiệu là : Bà Chúa, Bà Hoàng, Tôn Nương. Tác giả nổi tiếng hơn cả mở màn cho phong trào này là thánh Bênarđô.

Có điều lạ là trong tiếng Latinh, người ta gọi là “Kinh Cầu Đức Bà”, nhưng là “Kinh cầu Đức trinh nữ Maria” (litaniae debeata Maria Vigrine). Trải qua lịch sử đã có tới 25 kinh cầu kính Đức Maria. Hình thức mà chúng ta thường đọc goi là “kinh cầu Loreto”, vì được dùng ở nhà thờ kính Đức Mẹ ở Lorento, miền trung nước Italia, từ thế kỷ 16. Như đã nói trên đây, từ thế kỷ thứ 18, các thứ kinh cầu đã bị dẹp hết chỉ trừ kinh cầu Loreto. Nhưng mà nhiều Dòng vẫn sử dụng những hình thức cổ truyền của mình một cách âm thầm, thí dụ như Dòng Đaminh có Kinh cầu Đức Mẹ riêng, dài hơn kinh cầu  Loreto nhiều. Như vừa nói trong tiếng Latinh, người ta gọi là kinh cầu Đức Mẹ chứ không phải là Đức Bà. Và ta nhận thấy, có 5 loại tước hiệu kính Đức Maria: 1) loại thứ nhất gồm 3 tước hiệu căn bản của người, trích từ Kinh cầu các thánh: Thánh Maria (sancta Maria), Mẹ Thiên Chúa (DeiGenitrix), tuyệt đối đồng trinh (vỉgo virginum); 2) loại thứ hai gồm 10 kinh cầu dưới danh hiệu là “Mẹ” (moter) 3) loại thứ 3 gọi đức Maria là “Trinh nữ” (Virgo; gọi “Đức Nữ” là sai); 4) loạt thứ bốn gồm danh hiệu gắn với “Đức Bà” thì cũng trật nữa, bởi vì tiếng Latinh không có, mà goi thẳng luôn tước hiệu, thí dụ: “ Tòa Đấng khôn ngoan, cầu cho chúng tôi”. Đại khái, những tước hiệu này đề cao các nhân đức của đức Maria và mối liên hệ với Dân Chúa. 5) Loạt thứ năm gồm những tước hiệu gắn với “Nữ Vương” (hay nữ hoàng, hoàng hậu: Regina). Nên biết là lúc đầu, các lời kêu cầu hướng lên đức Maria “Nữ vương các thiên thần và các thánh trên trời”; dần dần các tước hiệu khác được thêm vào, đặc biệt là trong thế kỷ XIX - XX. Thí dụ: “Nữ vương chẳng hề mắc tội tổ tông”“Nữ vương hồn xác lên trời” được thêm vào sau khi hai tín điều được công bố; “Nữ vương rất thánh Mân côi” được đức Lêo XIII truyền thêm vào năm 1883; còn câu “Nữ vương hòa bình” thì được xen vào trong thế chiến thứ nhất (1917)

Sau công đồng vaticanô II, bộ phụ tự đã soạn một mẫu Kinh cầu Đức Mẹ đi kèm theo nghi lễ gắn triều thiên lên các ảnh tượng (Ordo coronandi imagimen B.M.V..1981). Một số Dòng tu hay Giáo hội địa phương cũng soạn mẫu kinh cầu dựa theo các tước hiệu kinh thánh, các tước hiệu của công đồng Vaticanô II… 

Nguồn tin: BAN TT

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Video

 
 

Liên kết website

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Giáo Phận Thái Bình
Giáo Xứ Cao Mại
Giáo Xứ Hoàng Xá
Giáo Xứ Bồng Tiên

Giới thiệu

Giới thiệu Website Giáo Xứ Trung Đồng

THÔNG TIN GIỚI THIỆU TRANG WEBSITE GIÁO XỨ TRUNG ĐỒNG              Ban truyền thông giáo xứ Trung Đồng xin gửi tới các thành viên trang Web cùng toàn thể Quí Vị Độc giả thân yêu lời chào chân thành và trân trọng nhất.           ...